Tản mạn về câu đối

Mùa Xuân nói về Câu Đối.. của người xưa…

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Đó là đặc trưng Tết của người Việt xưa ở miền Bắc – cái nôi của văn hóa Việt. Các nhà nghiên cứu đã đề cập không ít đến nguồn gốc và ý nghĩa của xuất xứ của sáu thứ/món trên.

Ở đây tôi chỉ xin “lan man” một chút về chuyện câu đối và nhất là câu ngày xuân. Câu đối chắc chắn có nguồn gốc từ bên Tàu. Nó vốn là một thứ “đặc sản thượng hạng” của văn hóa chữ Hán.

Người Trung Quốc quan niệm: nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên, nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù-vốn có nghĩa gốc từ tấm ván (phù) bằng gỗ đào được treo trước cửa để xua đuổi ma quỷ.

Nhà thơ Vương An Thạch đời Tống có mấy câu thơ rất nổi tiếng trong bài Nguyên Nhật: Pháo trúc thanh trung nhất tuế dư, Xuân phong tống noãn nhập đồ tô. Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật, Tổng ba tân đào hoán cựu phù.

Mấy câu thơ như vẽ nên cảnh sắc rộn ràng ngày Tết: Trong tiếng pháo rộn ràng, trong ánh nắng Xuân đang tràn khắp dương gian, cả ngàn vạn gia đình cùng gỡ câu đối cũ treo trước cửa nhà mình để thay bằng cặp câu đối mới. Vậy câu đối có từ bao giờ?

Theo sách “Tống sử-Thục thế gia”, thì câu đối đầu tiên được chính chúa nước Thục là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959: Tân niên nạp dư khánh, Gia tiết hiệu trường xuân (Năm mới thừa chuyện vui, tiết đẹp Xuân còn mãi).

Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng đây là câu đối xuân đầu tiên của Trung Quốc, một câu đối thật hay và đầy khí sắc với những từ mô tả mùa xuân: Tân niên (hai chữ đầu), Tân xuân (chữ đầu và chữ cuối), Gia tiết (hai chữ đầu câu sau)… Nguyên tắc quan trọng nhất của câu đối dĩ nhiên là tính đối ngẫu.

Hai vế trong câu đối phải đối xứng cân bằng với nhau từ số lượng từ, thanh âm đến ý nghĩa. Nếu câu đối luôn cố định là số chẳn (2 vế đối nhau của một câu) tức số âm thì số lượng chữ trong vế đối thường là số lẻ, tức số dương và có thể thay đổi. Cũng có khi số chữ trong vế đối là số chẳn, nhưng không nhiều. Một câu đối được xem là chuẩn mực mà các bậc túc nho thường nêu ra làm mẫu là câu đối của Trần Hậu Chủ viết khi lên Mang Sơn cùng Tùy Văn Đế: Nhật nguyệt quang thiên đức, Sơn hà tráng đế cư. (Nhật nguyệt sáng đức trời, núi sông ân (vua) nhuần thấm).

Đến thời Đường, do sự phát triển chặt chẽ của niêm luật thi ca nên dường như trong mỗi bài thơ đều là những cặp đối. Như đọc bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu thì dường như ta cảm thấy đó là 4 cặp đối khá chỉnh, chẳng hạn như cặp câu kết: Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu (Quê hương giờ biết nơi đâu nhỉ, khói sóng mù sông khiến người buồn)

Câu đối có nhiều thể loại: câu đối xuân, câu đối mừng hỉ sự (đám cưới, thăng chức, mừng tân gia, mừng thọ…), câu đối viếng đám tang, câu đối đề trên danh lam, cổ tích.vv.. Câu đối xuân vẫn được xem là một trong những nét văn hóa đặc trưng nhất của người Hán. Do tính chất đặc biệt-mừng năm mới, mừng xuân-nên câu đối xuân có chủ đề nổi bật là “cát tường như ý” mà hoàn toàn không phụ thuộc vào thành phần giai tầng xã hội hay gia cảnh của chủ nhân.

Vào dịp đầu năm mới, người Trung Quốc nào cũng đều mong xin được một câu đối hay để về dán trước cửa nhà mình. Bởi vậy, cứ dịp Tết đến xuân về là các nhà thư pháp lại hết sức bận rộn cho công việc viết chữ, cho câu đối. Truyền thuyết kể rằng, “Thư thánh”(bậc thánh về thư pháp) Vương Hy Chi đời Tống là một trong những người được thiên hạ ái mộ nhất về chữ nghĩa nên cứ mỗi độ xuân về là người ta lại đổ xô đến xin chữ của ông.

Tết năm nọ, vào đêm trừ tịch ông cho người nhà dán lên trước cửa câu đối: Xuân phong xuân vũ xuân sắc Tân niên tân tuế tân cảnh (Gió xuân mưa xuân sắc xuân, Năm mới tuổi mới cảnh mới) Chẳng dè chỉ được một lúc đã bị người ta gỡ trộm mất. Nghe tin ông bèn thuận bút viết luôn một câu khác: Oanh đề bắc lý Yến ngữ nam giao (Chim oanh hót ở phía bắc, chin én kêu ở phía nam-ý nói báo mùa xuân về) Nhưng câu đối này mới đem dán lên được một lúc cũng không cánh mà bay. Nghe tin, Vương Hy Chi nổi giận một hồi.

Nguôi giận, ông bèn viết một câu đối khác nhưng đêm cắt đôi mỗi vế và cho dán lại trước cửa: Phúc vô song chí Họa bất đơn hành (Phúc không bao giờ cùng đến, Họa lại chẳng bao giờ đến một mình-tương tự thành ngữ: Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí mà người Việt hay dùng). Câu đối rất chỉnh, chữ viết đẹp xuất thần nhưng nội dung lại hoàn toàn không phải chuyện cát tường dành cho năm mới nên không ai dám gỡ.

Sáng hôm sau, nghe người nhà báo câu đối vẫn còn nguyên, Vương Hy Chi mới vuốt râu cười và cho dán thêm hai nửa vế đối còn lại để thành một câu đối xuân hoàn chỉnh: Phúc vô song chí kim triêu chí Họa bất đơn hành tác dạ hành (Phúc không bao giờ cùng đến nhưng sáng nay đã đến, Họa chẳng bao giờ đến một thì đêm qua đã đến một rồi) Đêm ba mươi tết bị một Họa nhưng sáng mùng một xuân lại có đến hai Phúc viếng thăm.

Qủa là một câu đối tuyệt vời cho năm mới! Thời Thanh, người Tàu còn truyền tụng một câu đối xuân rất hay của Ái La Giác Tân (người Mãn Thanh): Trúc ảnh hoành song tri nguyệt thướng Hoa hương nhập hộ giác xuân lai (Bóng trúc ngang cửa sổ biết trăng đã mọc, Hương hoa tràn vào nhà biết xuân đã về) *** Đó là chuyện câu đối bên Tàu, còn ở ta thì tục xin chữ, viết câu đối xuân ngày xưa cũng rất phổ biến, phổ biến đến mức trở thành một món không thể thiếổitong ngày Tết cùng thịt mỡ, dưa hành, cây nêu, bánh chưng, tràng pháo. Đáng tiếc là theo thời gian, từ khi chúng ta chuyển qua dùng chữ Quốc ngữ, nó cứ nhạt dần.

Thực ra ngày xưa, giữa ta và Trung Quốc do tính chất đồng văn nên câu đối chữ Hán được truyền tụng qua về mà dường như không có sự phân biệt. Ngay cả câu đối của Ái La Giác Tân cũng được xem như câu đối của một vị danh Nho người Việt nào đấy, chỉ khác thay chữ “trúc” bằng chữ “thụ”: Thụ ảnh hoành song tri nguyệt thướng Hoa hương nhập hộ giác xuân lai Cũng có những câu đối tuyệt hay nhưng không rõ chính xác là của ai: Nhất thụ mai hoa nhất thụ ngọc Bán sàng minh nguyệt bán sàng thư (Một cây hoa mai một cây ngọc, Nửa giường sách vở nửa giường trăng) Với chủ đề đón Tết đón Xuân nên câu đối đầu năm luôn tràn ngập sắc xuân: Xuân phong xuân vũ xuân quang hảo Tân tuế tân niên tân sự đa (Gío xuân mưa xuân ánh xuân đẹp, năm mới tuổi mới nhiều chuyện hay)

Trong câu đối ngày xuân thường có bóng hoa đào, hoa mai và các thứ đặc trưng của ngày Tết. Và chúng cũng chính là sư giả của mùa xuân: Sổ điểm đào hoa tri vãn tuế Nhất hương địa bánh báo tân xuân (Vài bông đào nở hay năm hết, một mùi hương bánh báo xuân về) Ngày xuân cũng là lúc người ta cảm nhận tốt nhất vẻ đẹp của đất trời của giang sơn gấm vóc nghìn thu mà tổ tiên trao gửi lại: Thiên thu tuế nguyệt thiên thu mỹ Vạn lý giang sơn vạn lý xuân (Ngàn năm thu đến ngàn thu đẹp, Vạn dặm giang sơn vạn dặm xuân)

*** Ở Huế, câu đối xuân –theo nhiều nghĩa-vẫn còn tồn tại khá nhiều trên các di tích danh thắng. Câu đối mà chúng tôi cho là tuyệt hay hiện vẫn còn tồn tại trên hai trụ lớn trước đình Thương Bạc, ngó ngay vào cửa Thượng Tứ: Vũ trụ thái hòa thiên ngọc bạch y thường thử hội Kinh sư thủ thiện địa thanh danh văn vật sở đô (Trời vũ trụ thái hòa là lúc áo xiêm ngày hội, Kinh sư ấy đất lành nơi tụ hội của văn vật muôn phương).

Câu đối không hề có một chữ xuân hay nhắc đến mùa xuân mà vẫn thấy không khí xuân tràn đầy. Rõ ràng đây không chỉ là câu đối ca ngợi kinh đô Huế của triều Nguyễn mà còn là câu đối ca ngợi mùa xuân, sức xuân của mảnh đất tụ hội văn vật của cả nước. Đáng tiếc là câu đối tuyệt vời này lại rất hay bị các tấm biển quảng cáo (kể cả quảng cáo phòng chống HIV) của ngành văn hóa thông tin che mất (!)

Ở Triệu Miếu cũng còn giữ được vài câu đối sơn son thếp vàng khá đẹp, trong đó có những câu đối xuân, như: Quế điện phô hạm chân hiên phủ thụy sắc Sơ diên kỷ khánh bát thiên tuế nguyệt tiến hàn du (Điện quế sáng ngời nét đẹp tươi bừng khoe rạng rỡ, Trải chiếu đón chào tám nghìn năm dâng tiến niềm vui) Cũng là một câu đối đầy vẻ xuân, sức xuân trong chốn cung điện nhà vua.

Câu đối xuân còn được khắc trên cung điện với nội dung khá phong phú. Có câu ví khí sắc mùa xuân với vận nước: Bách hoa thổ diễm xuân phong noãn Vạn chúng cánh tân quốc vận xương (Trăm hoa nhả đẹp khí xuân ấm, Vạn nhà thêm mới vận nước lên). *** Chuyện về câu đối thì có thể nói là vô cùng, đầu xuân chỉ xin dẫn vài chuyện vặt ngõ hầu giúp vui cùng độc giả, nếu có gì chưa hay, chưa đúng cũng xin lượng thứ.

(Theo Sưu tầm)

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng. Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn

Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới

Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ

Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường

(Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ

Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà

Phúc là điều tốt lành được dân gian quan niệm là trên hết. Theo triết lý phương Đông, có phúc thì sẽ có con cháu đầy đàn, giúp ích cho việc tăng gia sản xuất, nối dõi tông đường. Vì vậy, trong tam tinh (Phúc, Lộc, Thọ) thì Phúc đứng đầu. Trong các mùa của năm, mùa xuân đứng đầu vì mùa này giúp cho cây trái tươi tốt, đem đến bao ước vọng an lành, vì lý do đó, chúc xuân là phải chúc phúc:

Tứ thời xuân tại thủ

Ngũ phúc thọ vi tiên

(Bốn mùa xuân trên hết

Năm phúc thọ đầu tiên)

Ngày tết cũng là dịp để mọi người nhớ về cội nguồn, nhớ đến công ơn dưỡng dục, sinh thành của ông bà, tổ tiên nên bàn thờ gia tiên ngoài hương đăng trà quả còn có các hoành phi, câu đối thể hiện sự biết ơn tổ tiên, ông bà:

Cúc dục ân thâm Đông hải đại

Sinh thành nghĩa trọng Thái Sơn cao

(Ơn dưỡng dục sâu tựa biển Đông

Nghĩa sinh thành cao hơn núi Thái)

Ngoài ra, còn có các hoành phi, liễn đối khác dán khắp nhà cũng không ngoài mục đích ước mong sự thái bình, làm ăn phát đạt, cát tường. Trước cửa nhà, người ta thường dán câu: Xuất nhập bình anh hay Ngũ phúc lâm môn. Trên tủ quần áo hoặc trên trái cây thờ cúng thì dán chữ đại kiết, còn ở lu gạo thì người ta dán chữ Mãn thể hiện ước muốn gạo trong lu đầy mãi. Riêng những gia đình chuyên buôn bán thì dán câu đối với sự cầu mong mua may, bán đắt, dập dìu khách đến, tấp nập người mua:

Xuân đáo khách phòng xung hỷ khí

Hoa khai tương điếm phức hương phong

(Phòng khách xuân sang đầy vẻ đẹp

Cửa hàng hoa nở nức mùi hương)

Bên cạnh các câu đối mang nội dung chúc tụng trong các dịp hiếu hỷ, lễ tết, một số nơi ở Nam bộ còn cho dán câu đối ở trước cửa nhà để nói lên chí hướng và hoài bão của gia chủ.

Phục kế tổ huấn lập đại chí

Thân công đạo lộ chấn gia thanh

(Khôi phục và nối tiếp lời dạy của tổ tiên để lập nên chí lớn

Con đường thành công của bản thân mình cũng sẽ làm cho thanh thế của gia đình nổi lên)

Ngoài ra, những gia đình có đặt tên hiệu cho nhà mình cũng dùng lối chiết từ để tạo thành câu đối. Tên hiệu của mỗi gia đình thường là để nói lên ý chí, ước vọng của gia chủ về những điều lành, sự giàu sang, phú quý. Cho nên, chiết tự từ cửa hiệu để tạo thành câu đối cũng nhằm khuếch trương quang đại cho gia đình và dòng họ. Ví dụ, một gia đình ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có cửa hiệu là Mộc Lợi, đã dùng câu đối sau:

Mộc gia tiên đức sáng cơ nghiệp

Lợi phát tài nguyên chấn gia thanh

(Cái đức đời trước của gia đình họ Mộc an dựng nên cơ nghiệp

Nên lợi lộc tiền tố đời nay làm uy danh gia tộc mình thêm)

Một gia đình khác có tên hiệu là Kim Lợi, thì sẽ tương ứng với câu đối sau:

Kim ngọc mãn đường tích thiên tứ

Lợi lộ hanh thông vạn đại xương

(Vàng ngọc đầy nhà là do thụ hưởng được ơn của trời

Con đường lợi lộc có tốt đẹp là do gia tộc: muôn đời làm điều tốt)

Một số tỉnh, thành Nam bộ, câu đối không chỉ được viết trên giấy màu đỏ (Câu đối đỏ), mà còn được viết ra giấy màu xanh (câu đối không chỉ viết bằng chữ Hán hay chữ quốc ngữ, mà còn bằng chữ Khmer. Dán câu đối màu xanh là việc chẳng đặng đừng vì chỉ có màu đỏ mới thể hiện cho sự cát tường, may mắn. Câu đối xanh chỉ do trong trường hợp gia đình có chuyện buồn vào những ngày vui, chẳng hạn không may trước ngày tết có người thân qua đời. Câu đối xanh là “trung hòa” cho việc buồn xảy ra trong ngày vui đó. Dán câu đối xanh cũng giúp cho những người đến viếng đỡ bối rối, ngại ngùng khi ngày tết mà phải đi viếng đám tang.

Nội dung câu đối xanh thường là nói về tình nghĩa của người đang sống với người đã khuất hoặc ca ngợi công đức của người quá cố.

Câu đối được viết bằng chữ Khmer là do sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer trên mảnh đất Nam Bộ, viết bằng mực đen và giấy đỏ, cũng được dán trước cửa nhà, cửa buồng, dán ở cột nhà, nội dung các câu đối cũng là chúc mừng năm mới, đón chào quý khách, giàu sang phú quý…

Ngày xưa, trong các phiên chợ tết, người ta thường mua vài câu đối của các ông đồ viết sẵn mang về nhà treo. Thật là thiếu sót nếu ngày xuân mà không có câu đối. Nói đến câu đối, ta không thể không nhắc đến hai câu nổi tiếng:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh.
Sưu tầm: D N Sài Gòn cuối tuần

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s