Quan hệ nhân quả trong khoa học (P2)

Phương pháp truy tìm quan hệ nhân quả

Như đã nói trước đây, cái gì cũng có nguyên nhân, nhưng không phải vì thế mà khi tìm hiểu một sự kiện nào đó, ta có thể gán cho nó bất cứ nguyên nhân nào. Vấn đề là phải tìm, cùng trong một phạm vi thí nghiệm như nhau, cho biết quả này thì phải là do nhân nào. Theo như nhà triết gia khoa học người Anh, là John Stuart Mill (1806 – 1873), thì phép quy nạp cũng chính là phép truy tìm quan hệ nhân quả. Phép đó cơ bản chủ trương dùng mấy phương pháp sau đây:

Một là phương pháp tương đồng. Khi nhiều trường hợp của một hiện tượng mà ta nghiên cứu đều cùng có một yếu tố như nhau, thì yếu tố này được coi là nguyên nhân của hiện tượng ấy. Ví dụ: một số khách ăn trong một quán cơm bị đau bụng tháo dạ, khi điều tra, ta thấy là họ đã ăn nhiều món khác nhau, nhưng có một món mà tất cả họ đều ăn, là món gỏi cá, vậy theo phương pháp tương đồng, ta kết luận: món gỏi cá là nguyên nhân của cơn đau bụng đó.

Tuy vậy nếu chỉ có một phương pháp này, thì kết luận có thể là đúng, nhưng chưa chắc là đúng hẳn. Ví dụ trong một buổi tiếp tân ta thấy có một số người say sưa nói nhảm, khi điều tra, ta thấy người này thì uống rượu ta (rượu đê) pha nước, người kia uống whisky pha nước, người khác thì uống mai-khôi-lộ pha nước, người khác nữa lại uống sake của Nhật Bản cũng pha nước, theo phương pháp tương đồng ta kết luận: nước là yếu tố chung cho các trường hợp đó, cho nên nước là chính nguyên nhân cho cuộc say sưa trên đây. Nhưng theo lương tri mà xét thì thấy không ổn? Vì thế cần phải có thêm mấy phương pháp nữa.

Hai là phương pháp dị biệt. Nếu hiện tượng ta quan sát xuất hiện trong trường hợp này mà không xuất hiện trong trường hợp kia, đồng thời ta lại thấy hai trường hợp đó có nhiều yếu tố như nhau, trừ có một yếu tố là có trường hợp này mà không có trong trường hợp kia, thì ta có thể là nguyên nhân, hay hậu quả, hay một thành phần của hiện tượng nói trên.

Đem áp dụng phương pháp này vào ví dụ đưa ra sau cùng trên đây, ta lại thử cho người ta uống nguyên chất các thứ rượu kể trên đây mà không pha nước, nếu thấy người ta không say sưa gì cả, thì ta có thể chắc chắn rằng nước chính là nguyên nhân làm cho mọi người say sưa!

Cái mà J.S. Mill gọi là phương pháp thứ ba, không có gì mới lạ cả: Đó chỉ là dùng cả hai phương pháp 1 và 2, như ta vừa làm mà thôi.

Bốn là phương pháp tạm gọi là dư tồn. Nếu trong hiện tượng H mà ta quan sát có nhiều thành phần, như: A, B, C, mà các thành phần đó đã được ta nhận định, theo các phương pháp trước đây, như là hậu quả của các thành phần P, Q, R, trong nguyên nhân N, thì thành phần D, còn lại trong hiện tượng H, có thể coi là hậu quả của thành phần S, còn lại trong nguyên nhân N.

Năm là phương pháp tăng giảm đồng thời. Khi ta tăng hay giảm một hiện tượng, mà thấy có hiện tượng khác cũng đồng thời tăng giảm, thì tức là hai hiện tượng ấy có quan hệ nhân quả với nhau, hay cùng là hậu quả của một nguyên nhân khác. Có điều cần phải chú ý: Các phương pháp trên đây, dù sao, cũng chỉ là nhìn theo bề ngoài. Đáng lý ra, càng tìm được nhiều yếu tố tương đồng thì quan hệ nhân quả càng vững. Thế nhưng rất có thể là những yếu tố tương đồng đó chỉ là ngẫu nhiên, chứ không chắc đã là do quan hệ nhân quả. Ví dụ có hai ông bác sĩ. Ông Ất nói: các bệnh nhân mà tôi điều trị thì đều dùng một thứ thuốc viên mầu đỏ, nặng 4 g, cùng do một hãng bào chế, cùng mua tại một hiệu thuốc, cùng do một cô hàng gói trong bao giấy xanh, các người đó đều lành bệnh cả. Trái lại ông Bính nói: các người bị bệnh A mà tôi điều trị, đều uống thuốc cùng một chất hoá học B như nhau, và họ đều khỏi cả. Ta thấy tuy ông Bính không đưa ra được nhiều yếu tố tương đồng như ông Ất, nhưng liên quan nhân quả có phần đúng hơn, vì nó thích hợp hơn. Vấn đề khó khăn là làm sao phỏng đoán được yếu tố thích hợp. Thiếu nó thì khi thực nghiệm có tìm ra bao nhiêu yếu tố tương đồng, cũng chỉ là bì phu chi ngoại, không đi đến đâu cả.

Nhận xét về quan hệ nhân quả

Có một số triết gia trong truyền thống tư tưởng duy nghiệm nước Anh chủ trương rằng kinh nghiệm không thể cho ta biết có quan hệ nhân quả hay không. Vì lẽ rằng ta chỉ thấy hiện tượng này và hiện tượng kia rất nhiều lần đi đôi với nhau, hoặc là đi theo nhau, cho nên từ đó ta nảy ra mềm tin chủ quan là hiện tượng này sinh ra hiện tượng kia mà thôi. Nhưng đã có người khác hỏi vặn lại: Đã đành như vậy là hiện tượng này không phải là nguyên nhân sinh ra hiện tượng kia, nhưng ít ra thì người vừa phủ nhận quan hệ nhân quả, cũng đã công nhận rằng chính cái việc quan sát hai hiện tượng thường đi đôi với nhau đã sinh ra trong đầu óc của ta cái niềm tin chủ quan rằng hai sự kiện có quan hệ nhân quả với nhau!

Đó là những suy luận có tính triết học. Còn lập trường khoa học thì đứng trong phạm vi thực nghiệm, cho nên cũng dần dần bỏ không nói đến quan hệ nhân quả, vì khó mà nói cho đúng cái gì sinh ra cái gì. Thực vậy, mỗi khi có một hiện tượng xuất hiện, thì ta thấy phải có nhiều điều kiện đi trước, mà không điều kiện nào có thể được gọi là nguyên nhân duy nhất cả. Vì thế muốn nói cho chính danh, thì phải đổi lại, phải chỉnh danh: không nói đến nguyên nhân, nhưng nói đến điều kiện.

Có hai thứ điều kiện: Một là điều kiện đủ. Trong trường hợp hễ có A thì cũng có B, ta gọi A là điều kiện đủ để có B. Hai là điều kiện cần, đó là điều kiện không có không được. Trong trường hợp hễ không có M thì cũng không có N, ta gọi M là điều kiện cần của N. Nhưng cũng trong trường hợp này, nếu có M thì chưa chắc là có N, vì M không phải là điều kiện đầy đủ của N. Ví dụ, dưỡng khí trong không gian là điều kiện tất yếu, không có không được, để gây ra hỏa hoạn, nhưng nó không phải là điều kiện đầy đủ để gây ra cháy nhà.

Khoa học chỉ cần biết như thế, chứ không cần dùng đến từ ngữ nguyên nhân có tính cách triết học. Và khi áp dụng khoa học vào kỹ thuật, nếu muốn tạo ra một hiện tượng nào đó, người ta tìm cách đặt ra điều kiện đủ của nó. Còn khi muốn tránh không cho một hiện tượng nào đó xảy ra, thì chỉ cần gạt bỏ đi một điều kiện cần mà thôi. Ví dụ muốn tránh hỏa hoạn chỉ cần tránh không cho ai châm lửa, không cho giây điện chạm nhau nảy lửa, hay là… rút hết dưỡng khí trong không gian đi!

Trong đời sống thường nhật, người ta vẫn hay nới đến nguyên nhân, nhưng thường chỉ có ý hiểu là điều kiện đã làm cho hiện tượng nào đó bộc phát, chứ không có ý nói đến tất cả các điều kiện. Ví dụ khi tìm nguyên nhân của một hỏa hoạn thì người ta có ý hỏi ai đã châm lửa, dây điện chạm nhau bật lửa như thế nào, chứ không ai nói đến dưỡng khí luôn luôn có trong không gian, tuy nó là điều kiện tất yếu.

Riêng trong khoa học thực nghiệm về thiên nhiên, thì ta biết tuy phải tìm tòi cho có phương pháp nhưng các định luật lại không có tính cách tất yếu, vì những kinh nghiệm đã đưa ta đến các định luật thì có hạn, mà định luật đã được ta tổng quát hoá thì lại bao gồm vô số những trường hợp mà ta không thể nào gặp hay là thí nghiệm được hết. Cho nên các nhà khoa học đều công nhận rằng theo lý thuyết nó chỉ có giá trị tạm thời. Vì thế những ai muốn chủ trương tư tưởng của mình là chân lý vững chắc, thì thiết tưởng không nên cho nó cái nhãn hiệu là khoa học, nhất là khi chính mình lại không theo phương pháp khoa học thực nghiệm.

Có hai điều đáng chú ý về sự khác nhau giữa lý thuyết và thực hành. Một là nếu vật lý học nghiên cứu về các vật cỡ lớn, thì ta thấy các định luật thường là những công thức, những tỷ lệ khá đơn sơ, rất dễ cho việc tính toán, nhưng khi nghiên cứu những vật cỡ nhỏ như ở cấp điện tử, thì các định luật lại rất phiền toái, không chính xác và chỉ có giá trị thống kê mà thôi. Tuy vậy, trong đời sống thường nhật ta vẫn áp dụng các định luật khoa học một cách xuôi chảy vào các vật cỡ lớn. Hai là tuy rằng theo lý thuyết các định luật khoa học chỉ là tạm thời, nhưng trong thực hành ta cũng lại thấy nó rất vững, có thể áp dụng rất hữu hiệu vào việc sáng chế các thứ máy móc tinh xảo. Và đó là hai điều rất lạ, ta chưa biết vì sao lại như vậy.

Để kết luận tạm thời tôi xin tóm lại ba nhận xét:

1) Cần phải phân biệt quan niệm khoa học thực nghiệm với những quan niệm khác, không theo phương pháp thực nghiệm và không có kiểm chứng một cách công cộng.

2) Chính trong phạm vi khoa học cũng cần phải phân biệt nguyên lý nhân quả với định luật nhân quả, đồng thời hạn chế định luật này vào những sự vật mà ta đo lường được.

3) Sau cùng, lại cũng cần phân biệt thế giới tự nhiên với thế giới con người, vì nếu ta có thể giải thích được thế giới sự vật bằng quan hệ nhân quả, thì trong thế giới con người, ta còn phải kể đến cảm giác và cái nhìn chủ quan, đến tự do và những ảo tưởng, hy vọng và dự định có liên quan đến luân thường đạo lý.

Nhưng đây lại là một vấn đề khác, vì nếu thế giới con người không hoàn toàn như thế giới tự nhiên thì phải có tiêu chuẩn riêng trong khoa học con người, để xác định thế nào là sự kiện, là định luật, là lý thuyết và những thứ đó có giá trị đến đâu.


Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s