ORA-00060: Deadlock Error During Concurrent Request Termination

Applies to:

Oracle Application Object Library – Version: 11.5.10.2 to 12 – Release: 11.5 to 12
Information in this document applies to any platform.

Symptoms

Deadlock happens during concurrent request termination (or) timeout. The error below is flashed in the alert log whenever post processing request is being terminated. This might cause concurrent processing to hang.

ERROR (alert.log)

Global Enqueue Services Deadlock detected. More info in file
(OR)
ORA-00060: Deadlock detected. More info in file

Trace File

DEADLOCK DETECTED ORA-00060 (deadlock_detected).
[Transaction Deadlock]
Current SQL statement for this session:
UPDATE FND_CONCURRENT_REQUESTS
SET PP_END_DATE = SYSDATE, POST_REQUEST_STATUS = ‘E’
WHERE
REQUEST_ID = :B1
—– PL/SQL Call Stack —–
object line object
handle number name
3fda81b78 67 package body APPS.FND_CP_OPP_CMD
3fec758a0 1 anonymous block

fnd_cp_opp_cmd.terminate_opp_request()

The following deadlock is not an ORACLE error. It is a
deadlock due to user error in the design of an application
or from issuing incorrect ad-hoc SQL. The following
information may aid in determining the deadlock:

Cause

The cause of this problem has been identified and verified in an unpublished Bug 9327105.

Solution

To implement the solution, please execute the following steps:

 For 12.1 , To implement the solution, please execute the following steps:

1- Please download and review the readme of Patch 9490156 or Patch 9779137. Patch 9779137 is a later release and contains the following 3 referenced file versions

2- Apply the patch in a Test environment initially before any application to a production instance.

3- Confirm the following file versions:

AFCPOPCB.pls 120.2.12010000.2
AFCPOPCS.pls 120.1.12010000.2
AFCPOPRB.pls 120.11.12010000.2

You can use the commands like the following:
cd $FND_TOP/patch/115/sql

strings -a AFCPOPCB.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPCS.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPRB.pls |grep ‘Header’

4- Retest the issue.

5- If the issue is resolved, Migrate the solution as appropriate to other environments.

For 12 ,  To implement the solution, please execute the following steps:

1- Please download and review the readme of  Patch 9327105;

2- Apply the patch in a Test environment initially before any application to a production instance.

3- Confirm the following file versions:

AFCPOPCB.pls 120.2.12000000.2
AFCPOPCS.pls 120.1.12000000.2
AFCPOPRB.pls 120.7.12000000.6

You can use the commands like the following:
cd $FND_TOP/patch/115/sql

strings -a AFCPOPCB.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPCS.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPRB.pls |grep ‘Header’

4- Retest the issue.

5- If the issue is resolved, Migrate the solution as appropriate to other environments.

For 11i ,  To implement the solution, please execute the following steps:

1- Please download and review the readme of  Patch 9380872;

2- Apply the patch in a Test environment initially before any application to a production instance.

3- Confirm the following file versions:

AFCPOPCB.pls 115.2
AFCPOPCS.pls 115.1
AFCPOPRB.pls 115.14

You can use the commands like the following:
cd $FND_TOP/patch/115/sql

strings -a AFCPOPCB.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPCS.pls |grep ‘Header’
strings -a AFCPOPRB.pls |grep ‘Header’

4- Retest the issue.

5- If the issue is resolved, Migrate the solution as appropriate to other environments

(Src: Oracle [ID 1060736.1])

MÁY GIẶT NATIONAL VR1000

HDSD VR1100 n

Thông tin sản phẩm

Hãng sản xuất NATIONAL
Kiểu máy giặt Máy giặt lồng nghiêng
Khối lượng giặt 9kg
Điện năng tiêu thụ(W) 250W
Chế độ giặt • Giặt nặng
• Giặt mạnh
• Giặt ngâm
• Giặt nhanh
• Giặt nhẹ
• Giặt thường
• Giặt đồ mỏng
• Xả
• Giặt đồ len,dạ
• Giặt chăn
• Giặt đồ dày
• Giặt tùy chọn
• Giặt tiết kiệm
Tính năng • Chuông báo kết thúc
• Chọn chế độ giặt
• Tiết kiệm điện
• Đồng hồ định giờ
• Nắp máy giặt trong suốt hoàn toàn
Sấy khô 6kg
• Thùng giặt bằng thép không rỉ
• Chống xoắn quần áo
• Chức năng diệt khuẩn
Khoá an toàn và bảo vệ trẻ em
• Chức năng hẹn giờ giặt Tiết kiệm nước
• Bộ lọc xơ vải kép
• Sấy lồng giặt chống rêu mốc
• Vận hành tiếp khi có điện lại (Auto restart)
• Tiết kiệm nước
• Giặt không nhàu vải
• Chức năng giặt bằng bạc Silver Wash
• Giặt bằng khí nóng AIRWash
Chế độ giặt nước nóng 60 °C => Tẩy màu giúp áo trắng hơn
• Chế độ giặt nước ấm 40 °C => Khử mùi
• Tiết kiệm nước ~ 63 Lít/lần giặt
• Tiết kiệm điện ~ 82 Wh/lần giặt (Sấy nóng ~ 1450 Wh)
• Độ ồn khi giặt ~ 30 dB (Vắt ~ 39 dB )
• Giặt = bọt khí
• Sấy = bơm nhiệt ( Heat pumb) => tiết kiệm điện hơn gấp nhiều lần so với máy giặt sấy bằng điện trở
• Chức năng ECO cảm biến thông minh tiết kiệm tối đa điện nước
• Chức năng PICO ION Diệt khuẩn khử mùi ion âm
Kích thước (mm) 639 × 1013 × 710
Trọng lượng (kg) 82
Xuất xứ Nhật Bản

NA-VR1000-congnghenhat (6)

Câu chuyện về “Độc lập” – Tự do – Hạnh phúc

Độc lập- một khái niệm hẹp!
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) độc lập có các nghĩa sau:
I) như một tính từ, “độc lập” có nghĩa là: “1. Tự mình tồn tại, hoạt động, không nương tựa hoặc phụ thuộc vào ai, vào cái gì khác”; và “2. (nước hoặc dân tộc) có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác”;
II) như một danh từ, “độc lập” chỉ “Trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác”. Hai khái niệm liên quan đến chủ đề được Từ điển định nghĩa như sau: “sống” là “tồn tại ở hình thái có trao đổi chất với môi trường ngoài, có sinh đẻ, lớn lên và chết”; còn “chết” là “mất khả năng sống, không còn biểu hiện của sự sống”.

Xét ngôn ngữ như một tổng thể, ta thấy các khái niệm – như một phần của cái tổng thể- luôn dẫn chiếu đến các khái niệm khác, các thành phần khác; không có cái độc lập. Một hệ thống có nhiều dẫn chiếu lên chính mình là một hệ thống động, luôn biến đổi và tiến triển.
Ta sẽ khảo sát vấn đề này ở hai khía cạnh. Thứ nhất xem trong toàn bộ vũ trụ vật chất này, có cái gì có thể coi là độc lập không. Độc lập hiểu theo nghĩa là tự nó tồn tại, không nương tựa hay phụ thuộc vào cái gì khác. Thứ hai cũng với nghĩa tương tự xét xem có nước nào hay dân tộc nào có chủ quyền, không phụ thuộc vào nước khác hay dân tộc khách không. Câu trả lời cho cả hai trường hợp đều là không. Nói cách khác cái gọi là độc lập chỉ có ý nghĩa trong thế giới của các ý tưởng, nó chỉ là một khái niệm để mô tả cái không bao giờ có trong thực tế (nhưng không phải vì thế mà nó không có ý nghĩa), đừng thần thánh hóa nó.
***
Trong thế giới vật chất không có cái gì là độc lập, tức là không nương tựa, không phụ thuộc vào cái gì khác đó. Từ thế giới vi mô của các hạt cơ bản, các nguyên tử, phân tử đến thế giới vĩ mô của các hệ thống vũ trụ, các dải ngân hà, các vì sao, hệ mặt trời, các hành tinh, đất, đá, các sinh vật, con người và cả xã hội, không có cái gì, không có bộ phận nào có thể coi là độc lập. Tất cả đều tương tác với nhau trong một mạng lưới phức tạp và đa dạng. Bất kể cái gì, nó chỉ có thể là nó, trong quan hệ, trong tương tác với những cái khác. Minh triết phật giáo gọi là duyên khởi. Nói cách khác trong thế giới, từ thế giới vật lý đến xã hội, từ lĩnh vực vi mô đến vĩ mô, từ những kích cỡ vô cùng bé nhỏ đến khổng lồ, từ thế giới sinh vật đến xã hội loài người khái niệm độc lập không có chỗ đứng. Như thế khái niệm phụ thuộc, kết nối, liên kết, tương tác mới là phổ biến; còn độc lập là xa lạ, là không thoả đáng và chỉ là sản phẩm của đầu óc con người, chỉ là tương đối, chỉ dùng để mô tả các sự vật hay các hiện tượng khi một số tương tác đang xét đến mức độ nào đó là không đáng kể; nếu tuyệt đối hóa nó có thể gây ra nhiều tai họa khôn lường. Loài người chúng ta là một bộ phận của thế giới, nó phụ thuộc vào, nó tương tác với các bộ phận khác. Chính vì thế mà phải sống hài hòa với môi trường, với thiên nhiên, mà vấn đề bảo vệ môi trường mới càng ngày càng có ý nghĩa với chúng ta. Nếu không chú ý, chúng ta có thể hủy hoại môi trường, và bằng cách đó hủy hoại chính mình. Thế nên những sáo ngữ một thời như “chinh phục thiên nhiên”, “cải tạo thiên nhiên” nếu hiểu thái quá sẽ có thể gây ra tác hại vô cùng, nếu không nói là những ý tưởng vĩ cuồng. Cái tưởng là quý, hóa ra lại không tồn tại, mà chỉ là ảo tưởng của con người. Hãy cảnh giác với những ảo tưởng ấy.
***
“Độc lập, tự do, hạnh phúc”

Hồ Chí Minh từng nói rằng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Về hình thức, câu nói ấy có giá trị vĩnh cửu, tuy nhiên, xét dưới khía cạnh nội dung, nội hàm của “độc lập – tự do” là một tiến trình nhận thức. Nó không đơn giản chỉ là “nước tôi là một nước độc lập, nước tôi là một nước tự do” thuần tuý theo tên gọi của khái niệm.
 
Trước làn sóng toàn cầu hoá hiện nay, nhìn dưới bất kỳ góc độ nào, có thể dễ dàng nhận ra, chẳng có quốc gia nào là độc lập tự do cả. Chính phủ Mỹ đóng cửa, cả thế giới bị ảnh hưởng. Sự ảnh hưởng, tác động qua lại, không chỉ trực tiếp ở các khối liên minh, mà còn cả gián tiếp với các nước không liên minh. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cho ta một bức tranh rõ nét nhất về ý niệm “độc lập” chỉ là tương đối.
 
“Tự do” cũng chỉ là một khái niệm tương đối. Không phải nước tôi giành được chính quyền nghĩa là nước tôi có toàn quyền tự do. Muốn tồn tại được trong thế giới này, trước tiên anh phải “chơi chung” với các quốc gia khác, đã tự nguyện “chơi chung” thì buộc anh phải tuân thủ các”khế ước chung” mà cộng đồng thế giới đang theo. Anh không tuân thủ. anh sẽ bị ra rìa. Nói như thế để thấy rằng, “độc lập tự do” quý đấy, nhưng hiểu đúng đắn về độc lập và tự do còn quý hơn.
Thôi gác chuyện thế giới và chính trị lại. Hôm nay chúng ta sẽ chỉ đề cập đến chúng ta thôi – một pham vi rất nhỏ– tôi –nhận thức về nó trong cuộc sống đời thường.
1. Tôi có độc lập không?
Khái niệm hẹp nhất của thuật ngữ “độc lập” là: “tự mình tồn tại, không nương tựa, không phụ thuộc ai khác” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên)
Anh có thể tự mình tồn tại được không?… Câu trả lời của tôi là KHÔNG. Tôi muốn có mặt ở đây, trước hết phải nhờ cha mẹ sinh tôi ra. Không có cha mẹ tôi, không có tôi. Nói thế để thấy rằng, tôi không thể “tự mình” mà tồn tại được.
Anh có thể không nương tựa ai không?… Câu trả lời của tôi là KHÔNG. Cha mẹ sinh tôi ra, tôi biết thể xác của tôi đã phải nương tựa vào cha và mẹ. Nhưng như thế chưa đủ, tôi cần phải ăn, phải mặc, phải học hành, phải lao động… để duy trì sự tồn tại của mình. Thế là tôi phải nương tựa người nông phu làm ra lúa gạo, người công nhân may mặc quần áo, thầy cô trao truyền tri thức, thế giới tự nhiên vàxã hộitạo điều kiện để tôi lao động sinh tồn… Tôi phải nương tựa vào quá nhiều người, trong một liên minh đa chiều, phức tạp.
Vậy làm sao để tôi có độc lập?
Dĩ nhiên, thực tại cuộc sống nằm trong những mối quan hệ, nhưng sẽ có những quan hệ mà ở đó ta là cây đại thụ, và cũng sẽ có kẻ tự biến mình thành vật ký sinh. Vấn đề không phải là ẩn cư trong rừng sâu, tách rời các quan hệxã hội, để rồi tự tuyên bố “tôi là người độc lập”.
Trở lại vấn đề cha mẹ với tôi. Tôi có mặt ở đây là nhờ cha mẹ. Dĩ nhiên thể xác và ý thức của tôi hoàn toàn nương nhờ cha mẹ. Nhưng điều đó không có nghĩa cha mẹ có toàn quyền quyết định với thể xác và ý thức của tôi. Cha mẹ cung cấp cho ta một nền tảng thể xác, thông qua bú mớm, trao đổi chất… nhưng đến lúc nào đó tôi cũng phải “tự mình” đi tìm thức ăn để nuôi dưỡng cái thể xác của mình. Cha mẹ cung cấp cho ta một thể nền ngôn ngữ và tri thức, thông qua giáo dục… nhưng đến lúc nào đó tôi cũng phải “tự mình” thiết định những thông tin tiếp nhận và sáng tạo. Thời điểm“đến lúc nào đó tôi cũng phải tự mình” được coi là thời điểm bắt đầu quá trình độc lập của bản thân đối với cha mẹ.
Trong quan hệ với thầy cô giáo và kiến thức thâu nhận được cũng thế. Tôi biết đọc, biết viết, biết hiểu biết thông tin… là nhờ thầy cô giáo dạy dỗ. Nhưng điều đó không có nghĩa thầy cô toàn quyền quyết định sự chọn lựa và sáng tạo thông tin của tôi. Trách nhiệm của thầy cô không phải là vạch một con đường để tôi PHẢI đi, mà chỉ là GỢI MỞ rất nhiều con đường cho tôi lựa chọn. Trách nhiệm của thầy cô không phải là bảo tôi PHẢI đọc cái gì, mà là dạy tôi nhận biết mặt chữ để tôi ĐƯỢC QUYỀN đọc, xem, nghe những gì tôi muốn.Thời điểm chúng ta biết chọn lựa, biết mình muốn gì chính là thời điểm ta độc lập với kiến thức của thầy cô.
Trong quan hệ vớixã hội, qua dư luận, phong tục, tập quán, truyền thống… cũng tương tự như trên.Xã hộilà môi trường chung, mà phong tục, tập quán, truyền thống, pháp luật… chỉ là những “khế ước cộng đồng” để cùng nhau hành xử cho linh hoạt nhằm không dẫm chân lên nhau. Phong tục, tập quán, truyền thống, kể cả pháp luật, không phải là PHẢI mà chỉ là NÊN, nghĩa là, nó được nằm trong mệnh đề “nếu… thì”. (Nếu tôi đi sang bên phải khi tham gia giao thông thì tôi có thể về nhà an toàn; nếu đi sang bên trái thì tôi có thể về nhà trên chiếc cáng…).Thời điểm chúng ta nhận biết được những quy ướcxã hội, từ PHẢI thành NÊN, thì thời điểm đó ta đã bắt đầu độc lập với những quy ướcxã hội.
 
Vậy khái niệm “độc lập” ở đây phải hiểu như thế nào?
Vẫn dựa trên khái niệm hẹp như tôi đã trích dẫn, chỉ thay đổi một chút, nhưng cái “một chút” này cung cấp cho tôi nhận thức và hành xử một cách hoàn toàn khác theo nghĩa mà Từ điển đã cung cấp. Định nghĩa của tôi là:“độc lập là tồn tại, nương tựa, phụ thuộc một cách có ý thức”.
2. Tôi có tự do không?
Khái niệm “tự do” có liên quan trực tiếp đến khái niệm “độc lập”. Anh chỉ có tự do trên cơ sở có độc lập. Nếu hiểu “độc lập” theo nghĩa mà từ điển tiếng Việt cung cấp, thì nghĩa của từ “tự do” được hiểu là: tôi được quyền làm những gì tôi muốn.
Thế nhưng, cái định nghĩa “tự do là được quyền làm những gì mình muốn” chỉ là một ý tưởng nói chơi cho vui trong lúc trà dư tửu hậu thôi, mặc dù thực tế quan điểm như vậy đã ăn sâu vào nếp nghĩ của chúng ta, đến mức, bất kỳ ai đụng chạm đến “cái muốn” của mình, thì đều sẵn sàng la làng lên “tôi không có tự do”.
Với cách hiểu về “độc lập” là : “tồn tại, nương tựa, phụ thuộc một cách có ý thức” thì chữ “tự do” ở đây có liên quan trực tiếp đến thuật ngữ “có ý thức”.
Tôi sẽ phân tích hai chữ “tự do” này theo một hướng khác với chữ “độc lập” ở trên, để giúp mọi người nhận diện sâu sắc hơn vấn đề một chút.
      2.1. Tự do thể xác
Sự an toàn về mặt thể xác, khi còn nằm trong bụng mẹ, thì được cha mẹ bảo hộ. Khi thành hình, làm giấy khai sinh, chính thức là công dân của một quốc gia, thì được pháp luật bảo hộ. Tại sao có sự bảo hộ này? Tại vì có sự xâm phạm của một cá nhân khác đến sự tồn tại của ta, nên bảo hộ là một trong những cách chống lại sự xâm phạm đó. Giả dụ thân thể của tôi được pháp luật bảo hộ, chỉ là để chống lại kẻ muốn giết tôi. Chống lại một kẻ muốn giết tôi có phải là xâm phạm tự do của kẻ ấy không? Dĩ nhiên là có. Thế nhưng cho anh ta tự do, thì anh ta lại xâm phạm sự tự do của tôi. Vậy làm sao để điều hoà hai sự tự do này, tự do của tôi và tự do của kẻ muốn giết tôi? Pháp luật là câu trả lời cho mâu thuẫn này. Chúng ra đời là nhằm giải quyết và điều hoà những quyền tự do chống trái nhau mà nguy cơ có thể dẫn đến xung đột. Pháp luật có sự cấm đoán, nhưng cấm đoán là để bảo vệ sự tự do của mỗi người.Ý niệm đầu tiên về sự tự do chính là: tôi cần một công cụ để bảo vệ sự tự do. Có bảo vệ nghĩa là có hạn chế. Nhận thức được sự hạn chế vì để bảo vệ tự do là nghĩa đầu tiên mà tôi muốn chia sẻ.
     2.2. Tự do tinh thần
Ngục trung nhật ký có hai câu này: “Thân thể tại ngục trung, Tinh thần tại ngục ngoại”. Câu này nói lên điều gì? Thân thể bị giới hạn, trong một nhà tù, có thể là là nhà tù với bốn bức tường của Côn đảo, nhưng cũng có thể cảxã hộilà một nhà tù rộng lớn, hoặc cũng có thể thân thể ta cũng chính là một nhà tù di động… Như nghĩa đầu tiên mà tôi đã chia sẻ: “nhận thức được sự hạn chế vì để bảo vệ tự do” thì nhà tù chính là một công cụ hạn chế vật chất cụ thể nhất. Tuy nhiên, với câu thơ thứ hai “tinh thần tại ngục ngoại” nói lên sự “vượt thoát”, bằng tinh thần, ra khỏi những hạn chế đó. Điều đó nói lên điều gì?Điều đó gợi mở cho ta một nhận thức khác về “tự do”, rằng chúng ta có thể có những hạn chế, một nhà tù nhỏ hay một nhà tù lớn… nhưng chúng ta vẫn có thể có được tự do thông qua tinh thần.Bởi lẽ tinh thần thì không thể bị hạn chế bởi bất cứ công cụ vật chất nào, ngoài sự hạn chế bằng chính những công cụ tinh thần.
    2.3. Tự do là gì?
Tôi đã từng thưa rằng, nếu hiểu “độc lập” theo nghĩa là “tự mình… không phụ thuộc”thì “tự do” phải được hiểu là “tôi được làm những gì tôi muốn”. Thế nhưng, thực tế vốn không có cái ý niệm “độc lập” vô nghĩa như vậy, nên “tự do” cũng không có một nội hàm như thế.
Nếu hiểu “độc lập” là “tồn tại, nương tựa, phụ thuộc một cách có ý thức” thì “tự do” sẽ được hiểu theo nghĩa nào? Câu trả lời của tôi là “tự do là nhận thức những hạn chế một cách có ý thức”. 
3. Tôi “có ý thức” không?
Cả định nghĩa về “độc lập” và “tự do” đều được tôi đưa vào cụm từ “một cách có ý thức”. Điều đó nhằm chia sẻ ý tưởng: Độc lập là gì không quan trọng. Tự do là gì không quan trọng. Có ý thức về nó mới là điều quan trọng.
Thực tế có thể tôi một mình, tôi độc lập, tôi cách lyxã hội… nhưng chưa chắc tôi đã có “độc lập” thật sự. Vì sao? Có thể do hoàn cảnh đẩy đưa ra ngoài hoang đảo hay rừng sâu từ khi còn nhỏ, dĩ nhiên tôi cũng có chút “độc lập” đấy, nhưng vì cái “độc lập” đó của tôi không có ý thức chủ động, nên nó trở thành một dạng tai nạn. Ngược lại, trongxã hộingày nay, có nhiều người đòi hỏi “độc lập” theo phong trào, bắt chước, a dua, coi đó như một style riêng, một bản sắc riêng, nhưng thiếu “ý thức” trong việc định hình bản sắc, nên cái độc lập đó trở thành một dạng ký sinh vô hình.
Về khía cạnh tự do cũng thế. Thiếu ý thức về sự tự do thì có cũng như không có. Anh được pháp luật bảo hộ về thân thể, anh đượcxã hộidạy dỗ giáo dục anh, như bao nhiêu người khác, nhưng anh tiếp nhận tất cả những cái đó mà không có suy tư, chọn lọc… thì sự tự do mà anh nghĩ anh đang có cũng chỉ là một dạng thức trá hình của sự mất tự do…
Vậy hành động có ý thức là gì? 
 Học theo các đạo sư nổi tiếng có phải là một hành động có ý thức?
Thực hành theo các học thuyết triết học tôn giáo sâu sắc có phải là một hành động có ý thức?
Đi theo đám đông, hành xử theo tập quán, nhận thức theo tri thức và kinh nghiệm… có phải là một hành động có ý thức?
 
Được dẫn dắt bởi tiếng nói của trái tim có phải là một hành động có ý thức?
Được dẫn dắt bởi sự suy tư lý tính hợp logic có phải là một hành động có ý thức?
Tuân thủ theo một nguyên tắc đạo đức mà ta tự đặt định có phải là một hành động có ý thức?

Read more:http://www.suynghiem.vn/2013/10/oc-lap-tu-do-la-gi.html#ixzz3kE7YQGlS
nghĩa sống còn đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Mở cửa, hội nhập, đóng góp những giá trị của mình cho thế giới, hấp thu những cái hay cái đẹp của những người khác là con đường thúc đẩy sự phụ thuộc, đẩy mạnh các tương tác. Thế mới thấy độc lập chỉ là khái niệm hẹp, có giá trị tương đối, không phổ quát, cái ngược lại –sự phụ thuộc, sự nương tựa vào nhau- mới là phổ quát, mới thực sự quan trọng.

CHÚ GIẢI CHÚ ĐẠI BI

1. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da

Hàng ngày chúng ta vẫn thường tụng Nam mô A – di – đà Phật. Nam mô Bổn sư Thích – ca Mâu – ni Phật. Nhưng quí vị có biết Nam – mô có nghĩa là gì không? Chắc là rất ít người biết được. Cách đây vài năm, có lần tôi đã đặt vấn đề này trong một pháp hội nhưng chưa một người nào có được câu trả lời hoàn chỉnh cả.

Nam – mô, phiên âm chữ Nama từ tiếng Phạn. Trung Hoa dịch là “Quy y”; cũng dịch là “Quy mạng kính đầu”. Có nghĩa là: “Con xin đem toàn thể sinh mạng của con về nương tựa vào chư Phật”. Cái bản ngã của chính mình không còn nữa. Mà con xin dâng trọn vẹn thân mạng mình lên chư Phật. Nếu chư Phật cho con sống thì con sống; bảo con chết thì con chết. Con hoàn toàn tin vào chư Phật. Đó gọi là “Quy mạng”.

Còn “Kính đầu” có nghĩa là hết sức cung kính và nương tựa vào đức Phật. Đó là ý nghĩa của Nam – mô.

Còn “Quy y” có nghĩa là đem hết thân và tâm của mình, đem hết cả mạng sống của mình trở về nương tựa vào đức Phật.

Nói tổng quát. Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là “Xin quy y Tam Bảo vô biên vô tận trong khắp mười phương”.

Đó chính là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm. Quí vị nên khởi tâm Từ Bi mà trì niệm. Mặc dù đó là bản thể của Bồ – tát Quán Thế Âm, nhưng cũng có nghĩa là quy y với toàn thể chư Phật trong mười phương, suốt cả ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Khi quí vị trì niệm thần chú này. Không những chỉ nhắc nhở mình quy y với Tam Bảo thường trụ trong khắp mười phương vô biên vô tận mà còn khiến cho tất cả mọi loài hữu tình khi nghe được thần chú này cũng đều quay về quy y, kính lễ mười phương ba đời thường trụ Tam Bảo.

Quí vị có biết Tam bảo là gì không? Đó là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Quí vị nên biết rằng, trên thế gian này Phật bảo là cao quý nhất. Cũng thế, Pháp bảo và Tăng bảo là điều cao thượng và quý báu nhất. Không những cao quý ở thế gian mà còn cao quý đối với những cảnh giới xuất thế gian, cho đến đối với cõi trời phi tưởng phi phi tưởng nữa. Không còn có gì cao quý hơn Tam bảo trong Phật pháp nữa. Trong mười pháp giới thì cảnh giới Phật là cao nhất. Thế nên chúng ta cần phải cung kính quy ngưỡng và tín thọ nơi Tam bảo cao quý, phát khởi tín tâm kiên cố và thâm sâu, không một mảy may nghi ngờ.
Có người sẽ hỏi: Quy y Tam bảo sẽ có lợi ích gì?  Tối thiểu nhất là khi quí vị quy y Phật rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào địa ngục nữa; khi quí vị quy y Pháp rồi thì đời đời kiếp kiếp không còn đọa vào hàng ngạ quỷ (quỷ đói) nữa; khi quí vị quy y Tăng rồi thì quí vị không còn bị đọa làm loài súc sinh nữa.  Đây là những đạo lý căn bản của việc quy y Tam bảo.

Nhưng khi đã quy y rồi, quí vị phải tự nguyện và tinh tấn thực hành các việc lành, tương ứng với lời dạy của đức Phật thì mới xứng đáng gọi là quy y. Nếu quí vị vẫn còn giữ nguyên các tập khí ngày trước như sát sanh, trộm cắp, tà hạnh dâm dục, nói dối, nghiện ngập và làm mọi điều mình thích để thỏa mãn ngũ dục thì quí vị không thể nào tránh khỏi đọa vào 3 đường ác (ngạ quỷ, địa ngục, súc sinh). Bở vì trong Phật pháp không có sự nhân nhượng. Quí vị không thể nói: “Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi, nên tôi sẽ không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nữa. Vậy nên tôi có quyền làm điều gì tôi muốn…”

Quí vị phải thay đổi, chuyển hóa mọi tập khí xấu của mình và tích cực thực hành những việc thiện, dứt khoát không bao giờ làm những việc ác nữa. Nếu quí vị còn tiếp tục làm những việc xấu ác, thì quí vị sẽ bị đọa ngay vào địa ngục.

Đạo Phật không giống như ngoại đạo. Họ tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là niềm tin. Nếu có niềm tin thì dù có làm việc ác, cũng có thể vào được thiên đường. Còn ngược lại, nếu ai thiếu lòng tin, dù có gắng sức làm việc phúc đức, thì cũng sẽ rơi vào hỏa ngục”.
Nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn tạo các nghiệp ác thì nhất định quí vị sẽ bị đọa vào địa ngục. Dù quí vị không tin vào đức Phật, mà vẫn gắng sức làm việc phước thiện thì quí vị vẫn được lên thiên đàng. Phật pháp không bao giờ mê hoặc con người bằng cách nói: “Nếu quí vị tin vào đức Phật, thì mọi điều sẽ được như ý.” Ngược lại, nếu quí vị tin vào đức Phật mà vẫn không chịu từ bỏ các việc ác thì quí vị vẫn phải bị đọa vào địa ngục.
“Được rồi”. Quí vị lại thắc mắc: “Nếu đã tin Phật rồi mà cũng đọa vào địa ngục như không tin, thì tại sao phải quy y Tam bảo?”

Chân chính quy y Tam bảo có nghĩa là phải từ bỏ việc ác, quay về đường thiện, sửa đổi mọi lỗi lầm. Như một người được khai sinh lại với tên mới, từ đây chỉ làm thuần túy những việc lành. Không làm những việc xấu ác nữa. Như thế mới đạt được lợi ích thiết thực. Chính vì vậy mà câu chú: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da có nghĩa là: “Quy y Tam bảo vô cùng vô tận trong khắp mười phương”.

Khi quí vị trì niệm chú này, cũng có thể giúp tiêu trừ được những ách nạn cho quí vị. Lúc gặp tai chướng, quí vị hay thường trì niệm: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì tai chướng ấy liền được tiêu trừ. Tai nạn lớn sẽ biến thành tai nạn nhỏ, và nếu gặp tai nạn nhỏ thì cũng sẽ được tiêu sạch. Chú này được gọi là “Tiêu tai pháp”, là một trong năm bộ chú hộ ma.

Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da cũng còn được gọi là “Tăng ích pháp”. Nghĩa là từ trước đến nay quí vị đã từng gieo trồng nhiều thiện căn, và vẫn thường trì tụng chú này, thì thiện căn của quí vị sẽ tăng trưởng thêm gấp nhiều lần, lợi lạc không kể xiết. Nên chú này được gọi là “Tăng ích pháp”.

Quí vị có thể niệm toàn bộ chú Đại Bi, hoặc chỉ cần niệm câu chú đầu tiên này thôi: Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da là “Thành tựu pháp”, bất luận quí vị muốn điều gì, thì sở nguyện sở cầu của quí vị đều được thành tựu như ý muốn. Nếu quí vị không có con trai mà muốn cầu sinh con trai, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da sẽ sinh được con trai. Nhưng quí vị phải trì niệm với tâm trí thành, không phải chỉ niệm một hai ngày rồi thôI, mà phải niệm liên tục ít nhất là trong ba năm. Nếu quí vị không có được bạn tốt, mà muốn gặp được một người, hay niệm Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da thì liền gặp được ngay bạn lành. Nếu quí vị trì niệm được toàn thể bài chú Đại Bi thì quá tốt, nếu không chỉ cần niệm câu đầu tiên Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, cũng sẽ thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn.

Câu chú này cũng còn được gọi là “Hàng phục pháp”. Năng lực của câu chú đó có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo khi nó nghe đến câu chú này.

Tuy vậy, câu chú này không phải là “Câu triệu pháp”. Khi quí vị trì niệm một câu chú thuộc trong “Câu triệu pháp” thì tất cả các loại yêu ma quỷ quái khắp nơi đều đến trình diện và có thể bắt giữ, hoặc sai khiến được chúng.

Vậy nên, câu chú Nam mô hắc ra đát ra đá ra dạ da này có công năng rất mạnh, không thể suy lường được. Nếu nói chi tiết, thì không thể nào cùng tận được.

Tóm lại, trong câu Nam mô hắc ra đát na đá ra dạ da, thì Nam mô có nghĩa là “quy mạng kính đầu”. Hắc ra đát na là “bảo”. Đá ra dạ có nghĩa là “Tam”. Da nghĩa là “Lễ”.

Nghĩa toàn câu là: “Xin đem hết thân, tâm, tính mạng của mình quy y và kính lễ Tam Bảo vô tận vô biên trong khắp cả mười phương, suốt cả ba đời”. Chúng ta phải cúi đầu đảnh lễ thường trụ Tam bảo.

Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì chư Phật trong thời quá khứ là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời hiện tại là vô cùng vô tận. Chư Phật trong thời vị lai là vô cùng vô tận. Cho nên Tam bảo là vô biên vô tận.

2. Nam mô a rị da

Nam mô như đã giảng ở trên, nghĩa là “đem hết thân tâm, tánh mạng quy y và kính lễ, học tập chư Phật và chư Bồ – tát”.

A rị có nghĩa là “Thánh giả”. Có nghĩa là người xa lìa tất cả các ác pháp. Nên Nam mô A rị da có nghĩa là kính lễ các bậc Thánh giả, người đã xa lìa tất cả các pháp bất thiện.

3. Bà lô yết đế thước bát ra da

Bà lô yết đế có nghĩa là “quán” trong danh hiệu Quán Thế Âm Bồ – tát. Cũng được dịch là “quang” từ danh hiệu Vairocana (Tỳ – lô – giá – na) nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu – hào quang chiếu khắp mọi nơi. Còn được dịch là: “Sở quán sát” nghĩa là cảnh giới được quán chiếu, được quán sát đến.

Thước bát ra da có nghĩa là “tự tại”.

Ý nghĩa toàn câu là quán chiếu quán sát một cách rộng khắp và tự tại. Đó chính là ý nghĩa của danh hiệu Bồ – tát Quán Tự Tại, Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là quan sát, lắng nghe âm thanh ở cõi thế gian để cứu độ một cách tự tại.

4. Bồ đề tát đỏa bà da

Mọi người đều biết Bồ đề xuất phát từ tiếng Phạn là Bodhi. Có nghĩa là Giác.

Tát đỏa có nghĩa là “độ” là vượt qua (bể khổ) cũng như đưa người khác vượt qua (bể khổ) đến bờ giải thoát.

Bồ Đề tát đỏa bà da có nghĩa là một vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát và giúp cho mọi chúng sinh được giác ngộ giải thoát như mình.

Bà da có nghĩa là “đảnh lễ”.

Da có nghĩa là khấu đầu đảnh lễ. Cúi đầu đảnh lễ ai? Đảnh lễ các vị Bồ – tát đã tự giác ngộ giải thoát cho chính mình rồi, còn giúp cho người khác được giác ngộ giải thoát.
Câu thần chú này là muốn nhắc đến Bồ – tát Bất Không Quyến Sách áp đại binh. Nghĩa là khi quí vị tụng câu thần chú này thì Bồ – tát Bất Không Quyến Sách đem binh tướng của cõi trời đến để hộ trì cho quí vị.

5. Ma ha tát đỏa bà ha

Ma – ha có 3 nghĩa: Đại: lớn; Đa: nhiều; và Thắng: hoàn hảo.

Ma – ha với nghĩa là Đại: tức chỉ cho người phát tâm bồ đề rộng lớn.

Ma – ha với nghĩa là Đa: tức chỉ cho số lượng. Có rất nhiều người phát tâm bồ đề.

Ma – ha với nghĩa là Thắng: tức nói đến những người đã phát tâm bồ đề rộng lớn đều đạt đến chỗ thành tựu viên mãn, được nhiều lợi lạc rất thù thắng.

Tát – đỏa nghĩa của chữ Tát – đỏa trong câu chú này không giống như nghĩa trong câu trên. Trong câu chú trên, Tát – đỏa có nghĩa là “độ” – vượt qua bờ bên kia. Có nghĩa là giải thoát. Còn trong câu chú này. Tát – đỏa có nghĩa là “Dõng mãnh giả” là người can đảm, không sợ hãi. Cũng có nghĩa là “Tinh tấn giả”, là người tu hành rất siêng năng.

Bà – Da Hán dịch là “Hướng tha đảnh lễ” nghĩa là: “Con xin đê đầu đảnh lễ các vị đại Bồ – tát, là những người rất dõng mãnh, rất tinh tấn, không bao giờ sợ hãi, và nguyện phát tâm bồ đề trước chư vị Bồ – tát này.”

Các vị đại Bồ – tát đã tự giác ngộ, giải thoát cho chính mình rồi còn phát nguyện giúp cho vô số chúng sanh khác được giác ngộ và giải thoát như mình.

6. Ma ha ca lô ni ca da

Ma – ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng như trên đã giảng.

Ca – lô Hán dịch là “Bi”.

Ni – ca nghĩa là “Tâm”.

Hợp lại, Ma ha ca lô ni ca có nghĩa là “Tâm đại bi”.

Da có nghĩa là đảnh lễ, như đã giảng ở trên. Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà – la – ni.”

7. Án

Án nghĩa là “Bổn mẫu”, là “Chú mẫu” mẹ của tất cả mọi thần chú; cũng chính là “Phật mẫu” mẹ của tất cả chư Phật.

Mẹ của chư Phật có nghĩa là mẹ của nguồn tâm trong mọi loài chúng sinh, vì nguồn tâm của chúng sinh vốn có sẵn mọi trí tuệ, thường xuất sinh các pháp lành, nên gọi là “Bổn mẫu”.
Thông qua năng lực của thần chú mà mười pháp muôn được hiển bày.

1. Pháp môn thứ nhất là “Tự”: là đầu nguồn, làm xuất sinh mọi chủng tự.

2. Thứ hai là “Cú”. Trong kinh văn hoặc trong thần chú, “Cú” có nghĩa là một câu.

3. Thứ ba là “Quán”: là quán chiếu, quán sát, vận dụng năng lực quán chiếu mà hành trì.

4. Thứ tư là “Trí”: là trí tuệ, dùng thanh gươm trí tuệ để cắt đứt tất cả phiền não. Trí tuệ tức là pháp môn lưu xuất từ Bát Nhã Ba La Mật, đó là trí tuệ viên mãn nhất. Còn “quán” là lưu xuất từ pháp môn Thiền định Ba La Mật.

5. Thứ năm là “Hành”: nghĩa là tu tập, nương theo giáo pháp mà hành trì.

6. Thứ sáu là “Nguyện”: nghĩa là cần phải phát nguyện, nương theo giáo pháp chân chính mà tu hành.

7. Thứ bảy là “Giáo”: nghĩa là y cứ theo giáo pháp chân chính mà tu hành. Nếu quí vị không nương theo lời dạy của đức Phật mà tu hành, thì dù quí vị có tu hành đến nhiều kiếp như số cát sông Hằng đi nữa thì vẫn không có kết quả gì cả. Cũng như thể nấu cát mà mong thành cơm vậy.

Tuy nhiên, để có thể tu tập xứng hợp với giáo lý chân chính của đức Phật thì trước hết, quí vị phải thông hiểu về giáo pháp đó một cách tường tận.

8. Thứ tám là “Lý”: nghĩa là đạo lý. Nếu quí vị có thể nhập được vào Phật pháp vi diệu thì mới có được sự hiểu biết thông đạt về giáo pháp ấy. Nếu quí vị không khế hội được diệu pháp này, thì quí vị chỉ là người tu tập trong sự mù quáng. Dù quí vị có tu hành bao lâu đi nữa, cũng không đạt được sự thành tựu.

9. Thứ chín là “Nhân”: Trong đời này quí vị phải gieo trồng những nhân thù thắng, nhân tốt lành, nhân thanh tịnh, thì quá khứ quí vị sẽ gặt được quả thù thắng, quả vi diệu và quả thanh tịnh.

10. Thứ mười là “Quả”: Quả tương ứng sẽ đạt được sau khi đã gieo trồng nhân. Đó là diệu quả, quả vị giác ngộ tối thượng.

Như vậy từ chữ án, xuất sinh ra mười pháp môn vi diệu. Nên khi quí vị trì niệm thần Chú Đại Bi, niệm đến chữ án thì tất cả các loài quỷ thần đều chắp tay vô cùng cung kính, không dám tỏ ra khinh suất hoặc lơ là khi nghe hành giả trì tụng thần Chú Đại Bi. Chữ án có một năng lực mạnh mẽ mà đến nỗi khiến cho các loài ác quỷ, ác thần đều phải cung kính chấp trì. Công năng của thần chú thật to lớn, thần lực thật không thể nghĩ bàn.
8. Tát bàn ra phạt duệ

Tát bàn ra, Hán dịch là “tự tại”. Nghĩa là khi quí vị trì tụng thần chú này, thì Tứ đại thiên vương đều đến làm Hộ pháp cho quí vị.

Phạt duệ, Hán dịch là Thế tôn, cũng dịch là Thánh tôn.

Nguyên câu chú này có nghĩa là Tự tại Thế tôn. Tự tại Thánh tôn, tức là Đức Phật tự tại, ý là xưng tán Phật bảo.

9. Số đát na đát tả

Chữ Số có hai âm là Shù và Shùo. Người ta thường niệm là “Shù”.

Số Đát Na có nghĩa là “pháp” (Dharma). Pháp gì? Pháp này còn gọi là “Diệu thắng pháp”. Cũng gọi là “Cao thượng thắng sinh”. Có nghĩa là không có gì vượt trội hơn pháp này nữa. Thắng sinh có nghĩa là từ pháp này xuất sinh ra năng lực rất thù thắng.
Còn một cách dịch khác của chữ Số là “Diệu sinh” hoặc “Thắng thân”. Diệu sinh tức là vượt lên trên mọi sự vi diệu. Thắng thân nghĩa là thể của pháp ấy rất thù thắng.

Còn có một cách dịch khác nữa của chữ Số, là “Tối thượng thừa địa”. Nghĩa là cảnh giới của hành giả sẽ trải qua sau khi chứng được Thập địa của hàng Bồ – tát.

Đát Na là biểu tượng của Pháp bảo.

Đát Tả là biểu tượng cho Tăng bảo.

Cho nên toàn thể câu chú án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tả là biểu tượng cho Tam bảo. Có nghĩa là chúng ta phải nên ngưỡng nguyện đến sự gia hộ của Tam bảo. Nên khi trì niệm đến câu thần chú này, có nghĩa là thỉnh cầu, ngưỡng nguyện đến lực gia trì của Tam bảo.

Đát tả còn có nghĩa là dùng giáo pháp để răn dạy các loài quỷ thần và dùng thần chú để triệu tập quỷ thần đến mà dạy bảo chúng theo tinh thần chánh pháp.

10. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a lị da

Xưa nay dường như quí vị luôn luôn Nam mô với một người nào khác chứ chưa bao giờ Nam mô với chính mình. Người tu hành không cần phải đi Nam mô một khách thể nào khác mà phải Nam mô ngay với chính mình.

Nam mô có nghĩa là tôi, chính tôi quay trở về quy y với Tam bảo vô cùng vô tận khắp mười phương.

Nam mô còn có nghĩa là đem tự ngã của chính mình thể nhập trọn vẹn vào cả pháp giới khắp cả mười phương. Tức là thể nhập vào Tam bảo vô cùng vô tận khắp cả mười phương.

Tất kiến lật có nghĩa là “hoàn toàn”. Tức là đem hết toàn tâm, toàn ý để quy y và đảnh lễ Tam bảo.

Đỏa y mông có nghĩa là “Ngã”. Đó chính là cái Ngã của Vô Ngã. Nên quí vị phải đem toàn tâm toàn ý đảnh lễ bản ngã của chính mình, nhưng đảnh lễ cái ngã của vô ngã. Như thế có nghĩa là không có mình hay sao? Ví như khi có người đánh quí vị, quí vị không cảm thấy đau; nếu họ mắng chửi, quí vị không thấy khó chịu; nếu họ nhục mạ, quí vị thấy như thể không có việc gì xảy ra. Quí vị không nhất thiết cần phải nhẫn nhục, vì nếu dùng phép nhẫn nhục, là quí vị đã rơi vào “đệ nhị nghĩa” rồi. Trong trường hợp này, quí vị không nhất thiết cần phải “nhẫn”, vì vốn không có một bản ngã để dùng pháp nhân và không có một bản ngã để cho pháp nhẫn ấy tác động tới. Có nghĩa là quí vị phải hành pháp nhẫn trong “vô nhẫn”.

Đó gọi là Ngã của vô ngã vậy.

A lị da ở trên đã giảng qua, có nghĩa là “Thánh giả”. ở đây tức là phải hết lòng đảnh lễ “cái ngã” ấy của Thánh giả. Vô lượng vô biên chư Bồ Tát, hết thảy Thiên Long bát bộ đều phải đảnh lễ cái ngã trong vô ngã của bậc Thánh giả. Cái ngã ấy bao trùm khắp vô lượng vô biên vũ trụ. Có rất nhiều bậc Thánh giả. Họ là ai? Dưới đây, tôi sẽ giảng rõ.

11. Bà lô kiết đế thất phật ra lăng đà bà

Bà lô kiết đế dịch là “Quán”.

Thất Phật ra dịch là “Tự tại” hoặc là thế âm. Âm thanh ở trong thế gian. Đây chính là Bồ – tát Quán Thế Âm.

Bà lô kiết đế thất Phật ra là Quán Thế Âm, cũng chính là Quán Tự Tại. Hai danh hiệu này không nhất định phải là Bồ – tát Quán Thế Âm mới được gọi là Quán Tự Tại hay Quán Thế Âm, mà nếu khi quí vị đã đạt được tự tại rồi, thì quí vị chính là Bồ – tát Quán Tự Tại. Khi quí vị có được năng lực cứu độ tất cả mọi loài chúng sinh, thì quí vị chính là Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy, một khi quí vị đã thể nhập và vận dụng trọn vẹn pháp này rồi thì chính quí vị là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu tôi đạt được tự tại trong việc vận dụng pháp này thì chính tôi cũng là hóa thân của Bồ – tát Quán Thế Âm.

Lăng đà bà dịch là “hải đảo”, chỉ cho núi Phổ Đà (Potala), nơi Bồ – tát Quán Thế Âm thường thị hiện. Có sách nói núi Phổ Đà ở nước Trung Hoa. Phổ Đà có nghĩa là “hoa trắng nhỏ” vì nơi núi ấy có loài hoa trắng nở rất nhiều. Trên núi có một cung điện được kiến tạo ở trong hang đá gọi là “Cung Từ Bi”, đó là nơi Bồ Tát Quan Thế Âm thường thị hiện. Nơi đó được trang hoàng bằng bảy thứ châu báu: vàng, bạc, xà cừ, pha lê, trân châu, ngọc bích, mã não. Nhưng không phải ai cũng đến được nơi cung điện này.

Bà lô kiết đế thất Phật ra là vị Bồ – tát có đầy tâm nguyện đại từ bi.

Lăng đà bà là cung điện Từ Bi, nơi Bồ – tát Quan Thế Âm thường thị hiện.

12. Nam mô na ra cẩn trì

Trong câu chú này, Nam mô vẫn có nghĩa là “quy y” và “quy mạng kính đầu”.

Na ra dịch nghĩa là “Hiền” – bậc hiền giả, chỉ cho hàng Bồ Tát.

Cẩn trì dịch là “ái”, có nghĩa là tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả (Bồ – tát) thường đem đến sự bao bọc, che chở cho chúng sinh. Trước đây tôi đã giảng về 10 loại tâm được đề cập trong Kinh Đại Bi Tâm Đà – la – ni. Quí vị nên y cứ theo mười loại tâm này mà công phu tu tập.

Na ra cẩn trì, Hán dịch là “Hiền ái thiện hộ” có liên quan đến nghĩa thứ nhất, nghĩa là thứ 6 và nghĩa thứ 10 trong 10 loại Tâm: Đó chính là Tâm Đại Bi, Tâm Cung Kính và Tâm Vô Thượng bồ đề.

Câu chú này đại biểu cho 3 loại tâm như trên.

13. Hê rị ma ha bàn đa sa mế

Hê rị có nghĩa là “Tâm”. Tâm này có ý nghĩa gì trong 10 nghĩa? Nghĩa thứ 4 là vô nhiễm trước tâm. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh tịnh của mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh.

Ma ha có nghĩa là “Đại”, cũng có nghĩa là “Trường”.

Bàn đà sa mế nghĩa là sao? Nếu tôi không nói, chắc chắn quí vị chẳng thể nào biết được. Nên quí vị muốn biết thì trước tiên tôi phải giảng. Lúc đó quí vị mới hiểu được. Quí vị mới nói rằng: “Thì ra ý nghĩa của cân chú ấy là như thế”. Bàn đà sa mế có nghĩa là “đại quang minh” nghĩa là hào quang rực rỡ chiếu khắp.

Bàn đà sa mế lại còn được dịch là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.

Nguyên câu Hê rị ma ha bàn đa sa mế có nghĩa là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận; từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.

Quí vị sẽ nói: “à, cái đại quang minh của tâm ấy, tôi đã nghe trong kinh giảng nói rất nhiều rồi, và…”

Vâng, nhưng trừ phi quí vị không nghe tôi giảng giải thần Chú Đại Bi thì quí vị không thể nào biết được. Tôi sẽ giảng cho quí vị rõ. Thật là khó gặp được người nào có thể giảng giải về Chú Đại Bi một cách rõ ràng tường tận. Thực vậy, hoàn toàn thực tình mà nói, không mấy người thể nhập được rốt ráo ý nghĩa của thần chú Đại Bi hoặc là chuyển được ý nghĩa của thần chú.

Sẽ có người hỏi: “Thế làm sao Sư phụ biết được?”

Quí vị khỏi cần phải hỏi tôi. Vì tôi đã không hỏi thì thôi, chứ quí vị đừng nên hỏi tôi tại sao mà tôi biết được. Dĩ nhiên là tôi phải biết. Nếu tôi không biết, tôi không thể nào giảng giải cho quí vị nghe được. Vì thế đừng nên hỏi tại sao tôi lại biết.

Thay vì quí vị hỏi tại sao tôi biết, thì quí vị hãy quay trở lại hỏi chính mình. Tại sao mình lại không biết? Nếu quí vị biết được lý do tại sao mình không biết, thì quí vị sẽ rõ được tại sao tôi biết. Trái lại, nếu quí vị không thể nào rõ được tại sao quí vị không biết, thì quí vị cũng không thể nào rõ được lý do tại sao tôi biết. Đó chính là điều làm nên sự kỳ diệu vậy.

Chẳng hạn có người đã hỏi tôi rằng: “Tại sao Thầy làm người xuất gia?” Tôi đã không trả lời câu hỏi đó mà hỏi lại rằng: “Tại sao anh lại không làm người xuất gia? Nếu anh biết được lý do vì sao anh không xuất gia, thì anh sẽ hiểu được vì sao tôi lại xuất gia”. Hỏi về đạo lý trong Phật pháp cũng như vậy. Thay vì quí vị hỏi: “Làm sao mà tôi hiểu được đạo lý ấy?”, thì quí vị hãy tự hỏi lại chính mình tại sao mình không hiểu được. Khi quí vị đã hiểu được tại sao mình không biết thì quí vị sẽ hiểu được tại sao tôi lại biết được đạo lý ấy. Nay quí vị đều là những người có nhiều thiện căn nên được dự pháp hội giảng chú Đại Bi. Vậy quí vị phải nên hộ trì, bảo trọng cho thiện căn của mình. Tự mình phải khéo vận dụng thiện căn ấy để tu học và liễu nhập Phật pháp, đừng để hoài phí một phút giây nào cả.

Hiện tại chúng ta đang sống vào thời mạt pháp. Chư Phật và Bồ – tát rất ít thị hiện ở thế gian. Thời gian này, lòng người đang tiến dần đến chỗ hoang liêu, điêu tàn, không dễ gì gặp được chánh pháp, cũng không dễ gì gặp được bậc chân thiện tri thức.

Có lần tôi bảo các đệ tử rằng: “ở Đài Loan có mở Đại giới đàn, năm huynh đệ các con nên đến đó cầu thỉnh để được thọ giới pháp”. Các đệ tử gửi thư cho tôi biết nhiều người ở Đài Loan nói với họ rằng: “Chẳng cần phải tu hành gì cũng có thể thành tựu đạo nghiệp”. Các đệ tử của tôi trả lời rằng: “Chúng tôi cũng là những con người như những con người khác, nếu không chịu tu hành thì làm sao có thể tựu thành Phật đạo? Nếu không công phu hành trì thì làm sao liễu ngộ được chánh pháp”. Nếu quí vị nói rằng không cần phải dụng công tu tập mà cũng thành Phật, liễu đạo thì trước đây đức Phật chẳng cần vào núi Tuyết tu suốt sáu năm làm gì, rồi sau đó đến ngồi dưới cội bồ đề tinh chuyên thiền định suốt 49 ngày, đến khi sao Mai vừa mọc thì Ngài tựu thành chánh giác.

Đức Phật còn phải tu hành mới thành tựu chánh giác. Còn mỗi chúng sinh như chúng ta, nếu không tinh tấn tu hành thì làm sao có thể thành Phật được? Ai ai cũng đều biết phải nhờ vào tu hành mới đạt được Phật quả, nhưng người chân thật tu hành thì rất ít; và ai cũng đều biết nếu không chịu tu hành thì đều có thể bị đọa vào địa ngục, nhưng người không chịu tu hành thì không sao kể xiết. Nghiệp lực thế gian thật là không thể nghĩ bàn!

Quí Phật tử! Sống trong thời mạt pháp mà có được điều kiện để nghiên cứu Phật pháp thì nên dõng mãnh tinh tấn lên, không nên biếng nhác, hãy siêng năng công phu, tinh cần đạo nghiệp mới mong có ngày thành tựu. Nếu không tinh tấn dõng mãnh mà mong thành tựu đạo nghiệp thì không thể nào có được.Vì thế nên quí vị đừng ngại gian nan, khổ nhọc, chướng duyên, tai ách… mọi thứ nên quên. Phải đánh trống dõng mãnh lên để cho tinh thần phấn chấn, chỉ một hướng thẳng đến công phu mới mong có ngày thành tựu quả vị Phật.

Tôi đang nói về sự vi diệu của Phật pháp. Nếu quí vị không phát khởi niềm tin vào trí tuệ siêu việt thì đạo lý này đối với quí vị cũng chẳng có lợi ích gì. Quí vị có thể thâm nhập Phật pháp từ mọi sinh hoạt trong cuộc sống, từ mỗi bước chân lặng lẽ của thời gian trong toàn thể pháp giới…

Trong Phật pháp, điều gì quí vị cũng muốn diễn bày cho rõ ràng minh bạch thì thường bị đánh mất những nghĩa lý sâu mầu vi diệu. Nay tôi dù có trình bày hết về diệu lý của Phật pháp, nhưng nếu quí vị không tin sâu và không hành trì thì điều tôi giảng không còn là diệu pháp nữa. Hơn nữa sự hành trì cần phải thường xuyên vào mọi lúc, mọi nơi với tinh thần tinh tấn, không lui sụt, không biếng nhác. Đây là điều khẩn thiết nhất. Nếu quí vị mọi thời, mọi lúc đều hướng về phía trước mà nỗ lực công phu thì nhất định một ngày kia sẽ trực nhận ra “mặt mày xưa cũ” của chính mình.

Bàn đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh.

Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.

Thuở xưa vào triều đại nhà Lương ở Trung Hoa có Thiền sư Chí Công là một bậc Đại đức cao tăng. Không sử sách nào ghi lại song thân của Thiền sư là ai. Người ta thường kể với nhau rằng: Một hôm nọ, có người phụ nữ nghe tiếng khóc của một hài nhi trên cành cây cao. Cô ta trèo lên, thấy một hài nhi nằm trong tổ chim ưng, bèn đem hài nhi về nuôi. Tuy thân thể hài nhi này hoàn toàn giống như người nhưng những móng tay, móng chân giống như móng chim ưng. Khi trưởng thành, xuất gia tu đạo, chứng được ngũ nhãn lục thông. Không biết cha mẹ Ngài là ai, chỉ biết Ngài sinh trong tổ chim ưng nên mọi người đều phỏng đoán Ngài được sinh ra từ trứng chim ưng vậy.

Thời ấy, vua Lương Vũ Đế cũng như mọi người đều rất kính trọng và tin phục các Thiền sư. Bất luận khi họ gặp những sự kịên gì trong đời sống, như sinh con, cha mẹ qua đời, cưới hỏi… họ đều cung thỉnh các Thiền sư đến để tụng kinh chú nguyện.

Một hôm, có một gia đình giàu có thỉnh Thiền sư đến tụng kinh chú nguyện nhân dịp đám cưới người con gái của họ, đồng thời thỉnh Thiền sư ban cho vài lời chúc mừng để mong rằng trong tương lai, việc hôn nhân đều được tốt lành như ý. Thiền sư Chí Công đến nhà ấy, khi nhìn thấy cô dâu chú rể, Ngài liền nói:

“Thật cổ quái, thật cổ quái!”

“Cháu cưới bà nội”

“Thật cổ quái” nghĩa là xưa nay chưa từng có một việc như vậy. Đây không phải là chuyện xưa nay thường xảy ra. Thật kỳ lạ khi nhìn một đứa cháu cưới bà nội mình làm vợ. Trên thế gian này, nếu không thông đạt những nhân duyên trong thời quá khứ thì không thể nào lý giải được những mối quan hệ cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bè bạn… của nhau. Vì sao? Vì mọi người đều có thể là chồng hoặc vợ của nhau trong đời trước. Một người có thể là cha hoặc là con của nhau trong nhiều đời trước. Hoặc một người đều là mẹ và con gái của nhau trong đời trước. Ông nội của quí vị trong đời trước lại kết hôn với cháu gái của quí vị trong đời này. Hoặc là bà ngoại đời trước lại tái sinh làm con gái của quí vị. Tất cả mọi việc đều có thể xảy ra, và đều chịu sự biến hóa khôn lường.

Trong nhà này, chuyện “cháu cưới bà nội” là do trước kia, khi bà nội sắp mất, bà trăn trối lại với toàn gia quyến: “Con trai ta vừa mới cưới vợ và đã có con nối dòng. Con gái ta cũng đã có chồng, ta không còn bận tâm gì nữa”. Bà ta hoàn toàn thỏa mãn và đã gạt mọi sự bận tâm qua một bên, ngoại trừ một điều: còn đứa cháu nội, “tương lai rồi sẽ ra sao? Ai sẽ chăm sóc nó? Liệu người vợ của nó có đảm đang hay không? Ta không thể nào không lo cho nó được!”

Bà nắm tay đứa cháu nội và qua đời. Người ta bảo rằng nếu mọi việc đều toại nguyện, lúc lâm chung có được tâm trạng thơ thới thì người chết sẽ nhắm mắt. Còn nếu không, thì người chết không nhắm mắt được. Bà lão nói: “Bà rất lo lắng cho cháu, bà chết không nhắm mắt được”. Nói xong, bà ra đi mà mắt vẫn mở. Thần thức của bà vẫn còn lo âu. Khi đến gặp Diêm vương, bà ta than khóc, thưa rằng:

– Tôi còn đứa cháu nội, không ai chăm sóc nó.

Diêm vương đáp:

– Được rồi, bà hay trở lại dương gian chăm sóc cho nó

Nói xong, bà ta được đầu thai trở lại trong cõi trần. Khi đến tuổi thành hôn, bà ta lấy người cháu nội trước đây của bà ta. Vì vậy nên nói “cháu lấy bà nội”. Quí vị thấy có phải là cổ quái thật không?

Chỉ vì một niệm ái luyến không buông xả được mà tạo nên biết bao duyên nghiệp buộc ràng về sau. Bà ta chỉ vì bận tâm vì đứa cháu, mà về sau phải làm vợ cho nó. Quí vị thử nghĩ lại xem, đây chẳng phải là chuyện cổ quái hay sao?

Quí vị sẽ hỏi: “Làm sao mà Thiền sư Chí Công biết được điều ấy?” Thiền sư biết được là vì Ngài đã đạt được ngũ nhãn và lục thông. Nên chỉ cần nhìn qua, là Ngài liền biết được ngay kiếp trước của cô dâu vốn là bà nội của chú rể. Chỉ vì bà nội đã khởi một niệm ái luyến sai lầm nên nay phải đầu thai trở lại làm người, và làm vợ của đứa cháu nội mình. Một niệm lành còn như thế huống gì là niệm ác, hoặc khởi trùng trùng niệm ác thì luân hồi trong tam đồ lục đạo biết bao giờ dứt, biết bao giờ mới mong ra khỏi.

Thiền sư lại nhìn trong số khách đến dự đám cưới, có một bé gái đang ăn thịt, Ngài nói:  “Con gái ăn thịt mẹ”.

Vì miếng thịt mà em bé đang ăn là thịt dê, con dê này vốn là mẹ của em bé đầu thai lại. Kiếp trước bà ta đã tạo nghiệp ác quá lớn nên đã phải đọa làm dê. Nay lại bị chính con mình ăn thịt. Vòng oán nghiệp khởi dậy do vô minh của chúng sinh không lời nào kể hết được. Chư Bồ Tát thương xót, phát tâm cứu độ chúng sinh là do điểm này.

Khi Thiền sư nhìn các nhạc công, thấy có vị đang đánh trống. Ngài nói:
“Con trai đang đánh bố”.

Vì cái trống ấy bịt bằng da lừa. Con lừa này chính là cha của anh nhạc công đầu thai vào. Con lừa này bị giết thịt, lấy da làm mặt trống. Thật là đau thương cho kiếp luân hồi.
Ngài nhình quanh đám cưới, nói tiếp:

“Heo dê ngồi ở trên”

Ngài thấy có vô số loài heo, cừu, dê, gà được đầu thai trở lại làm người, nay họ đều là bà con thân quyến của nhau nên cũng đến dự đám cưới này.

Nhìn trong bếp, Ngài nói:

“Lục thân bị nấu trong nồi”.

Chính là cha mẹ, anh em, bà con, bè bạn do kiếp trước đã sát sinh heo, gà quá nhiều để ăn, nay lại bị đọa làm heo, dê, gà trở lại; rồi bị giết thịt, bỏ vào nồi chiên nấu trở lại.

Ngài nói tiếp:

“Mọi người đều vui vẻ chúc mừng nhau”

Mọi người đến dự đám cưới đều rất vui vẻ mà chúc tụng nhau. Ngài tự than với mình rằng:

“Trông thấy cảnh ấy mà lòng đau xót, ta biết đó chính là những oán nghiệp xoay vần vay trả, tạo nên nỗi khổ chất chồng”.

Thiền sư Chí Công biết rõ nhân quả khi nhìn vào gia đình này. Làm sao chúng ta có thể hiểu được hết chuỗi nhân quả của từng gia đình với trùng trùng khác biệt nhau ra sao. Cho nên những người tu đạo phải rất cẩn trọng trong khi tu nhân, vì khi nhân duyên chín mùi sẽ gặt lấy quả tương ứng với nhân đã gieo. Tại sao người lại trở lại làm người? Là để trả nợ, trả những món nợ nhân quả ở thế gian. Nếu quí vị không tìm cách trả món nợ này thì nợ nần vẫn tiếp tục, như món nợ đã vay của ngân hàng vậy.

Tôi nhớ một câu chuyện này nữa. Có một gia đình nuôi một con lừa, dùng nó để kéo cối xay và chuyên chở. Người chủ thấy lừa quá chậm chạp nên thường dùng roi đánh nó để thúc giục. Con lừa làm việc miệt mài trong cực nhọc cho đến khi chết. Nó được đầu thai làm người. Khi người chủ hay đánh đập lừa chết, lại đầu thai làm một người phụ nữ. Khi cả hai người này đến tuổi thành hôn thì họ cưới nhau.

Quí vị có biết cặp vợ chồng này sống với nhau như thế nào không? Suốt ngày người chồng đánh đập người vợ. Ông đánh vợ bất kỳ lúc nào, bất luận đang cầm vật gì trên tay, cả lúc đang ăn cơm cũng đánh vợ bằng đũa. Ông ta vừa đánh vừa chửi, cho dù người vợ chẳng làm điều gì sai trái.

Một hôm Thiền sư Chí Công đi qua nhà họ. Người phụ nữ bèn thưa với Ngài:

– Chồng con ngày nào cũng đánh và chửi con qúa chừng mà con không biết tại sao. Bạch Ngài, xin Ngài hãy dùng ngũ nhãn, lục thông bảo cho con biết mối tương quan nhân quả của chúng con đời trước ra sao mà đời này chồng con đánh đập và chửi mắng con hoài vậy?

Thiền sư Chí Công đáp:

– Tôi sẽ nói rõ tương quan nhân quả của hai người cho mà nghe. Trong đời trước, bà là một người đàn ông. Ngày nào bà cũng đánh đập chửi mắng con lừa, thúc giục nó phải kéo cối xay bột.

Ông chủ ấy thường đánh con lừa bằng cái chổi tre. Nay ông chủ được đầu thai lại làm người phụ nữ, đó chính là bà. Còn con lừa thì được đầu thai làm người chồng. Nay ông ta thường hay đánh đập chửi mắng bà cũng như kiếp trước bà đã thường đánh chửi ông tức là con lừa vậy. Nay bà đã hiểu rõ nhân quả tương quan với nhau rồi, tôi sẽ bày cho một cách để chấm dứt vòng oán nghiệp này. Bà hãy cất giấu tất cả mọi dụng cụ trong nhà ngoại trừ cái chổi đuôi ngựa (chổi dây). Khi người chồng thấy chẳng còn vật gì dùng để đánh cô, anh ta sẽ cầm chổi dây này để đánh. Cứ để cho anh ta đánh vài trăm roi, thì nợ cũ của bà mới được trả. Lúc đó, bà mới báo cho anh ta biết nhân đời trước và quả đời sau báo ứng với nhau rất rõ ràng như tôi vừa giải thích cho bà. Anh ta sẽ không còn đánh bà nữa.

Người phụ nữ làm đúng như lời Thiền sư Chí Công chỉ dạy. Khi người chồng về đến nhà, ông ta liền kiếm vật gì đó để đánh vợ. Chỉ còn thấy chiếc chổi đuôi ngựa, ông ta cầm lấy và đánh. Thông thường như mọi khi, cô ta tìm cách chạy trốn. Nhưng lần này cô ta kiên nhẫn ngồi đó chịu đòn cho đến khi ông chồng ngừng tay.

Thấy lạ, ông ta hỏi tại sao bà không bỏ chạy. Cô ta kể lại việc được Thiền sư Chí Công giải thích cặn kẽ tương quan nhân quả của hai người. Ông chồng nghe xong ngẫm nghĩ: “Như thế thì từ nay ta không nên đánh chửi cô ta nữa. Nếu còn đánh, thì kiếp sau cô ta sẽ đầu thai trở lại rồi tìm ta để đánh chửi”. Từ đó ông chồng không còn đánh mắng người vợ nữa.

Thế nên quí vị phải biết mọi người đều có sự quan hệ với nhau tương ứng với nhân đã tạo. Quí vị chẳng thể nào biết được trong đời trước, ai đã từng là mẹ, là anh, là cha hay là chị em của mình. Cái nhân đã tạo ở đời trước sẽ tạo thành quả đời này và nhất định có liên quan đến bà con quyến thuộc của mình. Nếu quí vị hiểu được đạo lý nhân quả, thì quí vị có thể chuyển hóa, biến cải được nhân bằng cách từ bỏ những việc ác.

Còn một chuyện nữa về Thiền sư Chí Công. Một ngày Ngài ăn hai con chim bồ câu. Ngài rất thích món ăn này. Người đầu bếp nghĩ rằng món thịt bồ câu chắc là rất ngon nên ngày nọ anh ta quyết định nếm thử. Anh ta làm việc này với hai ý nghĩ: một mặt là muốn thử xem thức ăn hôm nay mình làm có ngon hay không? một mặt khác anh ta nghĩ rằng Ngài Chí Công ngày nào cũng thích ăn bồ câu, nhất định đây là một món ăn rất ngon, nên muốn thưởng thức một chút rồi mới đem đến cho Thiền sư dùng.

Khi người đầu bếp mang thức ăn đến. Ngài nhìn đĩa thức ăn và hỏi:

– Hôm nay có ai nếm trộm thức ăn này? Có phải chính anh không?

Người đầu bếp liền chối. Thiền sư liền bảo:

– Anh còn chối. Tôi sẽ cho anh thấy tận mắt ai là người nếm trộm. Hãy nhìn đây!

Ngài liền ngồi ăn. Ăn hết hai con bồ câu rồi, Ngài liền há miệng rộng, trong đó, một con bồ câu liền vẫy cánh bay ra còn con kia thì bị mất một cánh, không thể bay lên được.

Thiền sư mới bảo:

– Anh thấy đó, nếu anh không nếm trộm thì tại sao con bồ câu này không thể bay được?

Chính là vì ông đã ăn hết một cánh của nó.

Chuyện này làm cho anh đầu bếp biết Thiền sư Chí Công không phải là người thường. Ngài chính là hóa thân của Bồ – tát. Thế nên Ngài có năng lực biến những con bồ câu bị nấu thành thức ăn rồi thành bồ câu sống. Không phải là Bồ – tát, không làm chuyện này được.

Thiền sư Chí Công còn thường ăn một loại cá gọi là Tuệ Ngư. Cũng đem cá ra nấu nướng rồi Ngài ăn từ đuôi lên đầu. Nhưng sau đó Ngài lại há miệng ra làm cá sống lại. Vì vậy, những việc này là rất thường đối với cảnh giới của hàng Bồ – tát. Thiền sư Chí Công là một vị Bồ – tát, nhưng không bao giờ Ngài nói: “Các ngươi biết không, ta là một vị Bồ – tát, ta đang giáo hóa chúng sanh, ta có đại nguyện này, hạnh nguyện kia…” Các vị không bao giờ mong khởi ý niệm ấy. Cho nên chúng ta là hàng phàm phu, dù có thấy Chư Phật hay Bồ – tát cũng không thể nào nhận biết được. Việc làm của Bồ – tát cũng gần như hành xử của người thường, nhưng thực chất lại không giống nhau. Là vì phàm phu khi hành động chỉ nghĩ đến lợi ích của chính mình, không nghĩ đến sự giúp đỡ cho người khác. Còn Bồ – tát thì chỉ nghĩ đến lợi ích của người khác mà không nghĩ đến mình. Khác nhau là ở điểm này. Bồ – tát thì tự làm lợi ích cho mình còn lo làm lợi ích cho người khác. Tự giác ngộ mình xong rồi giúp cho người khác giác ngộ. Tự độ hoàn toàn, lợi tha hoàn toàn. ý nghĩa của chú Đại Bi mà tôi đang giảng cũng nằm trong đạo lý này vậy.

14. Tát bà a tha đậu du bằng

Câu chú này chia làm ba phần. Khi trì tụng lên, câu chú có ba nghĩa khác nhau:
Tát bà có nghĩa là “tất cả”. Còn có nghĩa là “bình đẳng”. Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”.

A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp.

Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.

“Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu.

“Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất.

Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.

Du bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy. Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.

15. A thệ dựng

A thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có pháp nào có thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là không có đạo giáo nào có thể so sánh được. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy, được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu nhiễm, chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát.

Mười loại tâm này là tướng của Đà – la – ni, chúng ta phải đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh quả.

16. Tát bà tátđá, na ma bà tát đa, na ma bà già

Tát bà tát đá là tiếng Phạn, dịch là “Đại thân tâm Bồ – tát”.

Na ma bà tát đa. Hán dịch là “đồng trinh khai sĩ”, là tên gọi khác của pháp vương tử, cũng là hàng Bồ – tát. “Đồng trinh” biểu tượng cho bản tánh. Còn “khai sĩ” cũng là một danh hiệu khác của Bồ –tát, có nơi gọi là “đại sĩ”. Các vị Bồ – tát lúc sắp thành tựu Phật quả, đều được gọi là pháp vương tử, tên gọi của hàng Thập địa Bồ – tát.

Na ma bà già. Hán dịch là “Vô đẳng đẳng”. Giống như ý nghĩa trong Bát nhã tâm kinh “Cố tri Bát – nhã ba – la – mật – đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô lượng chú, vô đẳng đẳng chú”.

Quí vị có thể hỏi: “Cái gì không thể sánh bằng?” “Đó là bà già, Hán dịch là Thế tôn”. Bà già là chư Phật thường trụ ở khắp trong mười phương.

17. Ma phạt đạt đậu

Ma phạt đạt đậu dịch nghĩa là “Thiên thân, thế hữu”.

Câu chú này có nghĩa là: “Kính lạy chư Bồ – tát, xin hãy duỗi lòng từ cứu giúp con. Xin các Ngài hãy là thân quyến ở cõi trời của chúng con và là người bạn ở cõi thế gian này của chúng con, để hộ trì cho mọi thiện pháp được thành tựu”.

Câu chú này thỉnh nguyện sự gia trì của mười phương chư Phật và chư Bồ – tát.

18. Đát điệt tha – án

Trong Bát nhã tâm kinh có nói: “Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết…”

Đát điệt tha Hán dịch là “tức thuyết chú viết”. Còn dịch là “Sở vị”. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Tâm đại bi mà nói ra chơn ngôn này, nói bằng các chủng tự của Phạm Thiên.

Đát điệt tha còn có nghĩa là “thủ ấn” nghĩa là kết ấn bằng tay. Cũng gọi là “trí nhân” nghĩa là khai mở con mắt trí tuệ của chúng sinh.

Đát điệt tha lại còn có nghĩa là vô lượng pháp môn tu học và trí huệ nhãn vô lượng. Đó là ý nghĩa của “Sở vị”.

Chữ án như đã nói ở trước, khi quí vị trì niệm trì niệm đến chữ án thì quỷ thần đều phải chắp tay cung kính, lắng nghe người niệm chỉ giáo. Chữ án còn có công năng lưu xuất nhiều pháp môn sau đây.

19. A bà lô hê

A bà lô hê chính là Bồ – tát Quán Thế Âm. Có nghĩa là “quán sát”. Dùng trí tuệ để quán sát mọi âm thanh oqr thế gian. Trong thế gian có nhiều loại âm thanh. Bồ – tát Quán Thế Âm quán sát âm thanh, tiếng kêu than cầu xin cứu khổ của người ở thế gian khi họ không thể vượt qua nổi những khổ nạn.

20. Lô ca đế

Lô ca đế nghĩa là “Tự tại” hoặc là “Thế Tôn”. Hợp lại hai câu trên A bà lô hê lô ca đế nghĩa là Bồ – tát dùng trí tuệ để quán sát âm thanh ở thế gian. Chính là danh hiệu của Bồ – tát Quán Thế Âm.

21. Ca ra đế

Ca ra đế dịch là “Bi giả” là người có lòng từ bi rộng lớn, thường cứu giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau và thất vọng. Người mà có thể cứu giúp cho chúng sinh vơi bớt khổ đau là một người “đại bi”. Ca ra đế còn có nghĩa là “tác giả”. Người có thể làm cho đạo nghiệp sinh khởi, giúp cho mọi chúng sinh đều phát tâm bồ – đề, phát nguyện làm những việc khó làm như hành Bồ – tát đạo để tiến tới tựu thành Phật quả.

22. Di hê rị

Di hê rị dịch nghĩa là “Thuận giáo”. Khi quí vị trì tụng đến câu chú này, nghĩa là quí vị tự phát nguyện: “Con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ – tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con nguyện nương theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành”.

Di hê rị còn có nghĩa là “Y giáo phụng hành”. Nương theo lời dạy của Bồ – tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.

23. Ma ha bồ đề tát đoả

Ma ha có nghĩa là “đại” là to lớn.

Bồ – đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ được đạo lý chân chính.

Tát đoả. Hán dịch là “đại dũng mãnh giả”. Câu này có nghĩa chư vị Bồ – tát là người phát tâm đại bồ – đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh Bồ đề. Phát bồ đề tâm nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ – đề hạnh là vun trồng, tưới tẩm cho hạnt giống bồ – đề đã gieo được nảy mầm, rồi mới mong gặt được quả giác ngộ, tức là quả vị Vô thượng bồ – đề.

Đây là ý nghĩa của câu chú Ma ha Bồ đề tát đoả. Câu chú này thuyết minh về công hạnh trang nghiêm viên mãn của chư vị Bồ – tát là do định huệ song tu. Khi Định đã lắng trong thì Huệ cũng được chiếu sáng. Khi Huệ đã viên mãn, thì Định viên dung. Vì Bồ – tát Quán Thế Âm đã đạt được định lực viên mãn, nên xuất sinh trí tuệ sáng suốt. Vì Bồ – tát đã đạt được trí tuệ viên mãn, nên Ngài mới đạt được định lực lắng trong. Không có Định thì chẳng có Huệ và không có Huệ thì chẳng đạt được Định. Nên gọi định huệ không hai là vậy.

Do nhờ tu tập vô số công hạnh mà Bồ – tát được trang nghiêm thân tướng nên chư vị không rời bỏ một pháp nào dù nhỏ bé hoặc vô cùng vi tế. Dù một việc thiện nhỏ nhất, cho đến lớn nhất, chư vị Bồ – tát đều hoàn tất chu đáo. Nên kinh có dạy”

“Chớ khinh việc thiện nhỏ mà không làm

Chớ xem thường việc ác nhỏ mà không tránh”.

Các vị Bồ – tát thường siêng năng làm các điều thiện và dứt khoát từ bỏ các việc ác, chư vị phát bồ – đề tâm và đạt được quả vị giác ngộ Vô thượng bồ – đề. Chư vị trang nghiêm pháp thân bằng vô số công hạnh. Chư vị phát đại bi tâm, thực hành đại pháp vô duyên từ tuỳ theo tâm lượng của chúng sinh mà làm Phật sự. Nhưng chính các vị Bồ – tát, tự bản tánh và bản thể của các Ngài không hề gợn một mảy may tướng trạng của chúng sinh tâm. Các Ngài tự thấy mình và toàn thể chúng sinh có đồng một thể tánh, không hề phân hai. Các Ngài không chỉ chịu khổ cho riêng mình, mà ước nguyện giúp cho chúng sinh thoát khỏi mọi khổ luỵ. Dù các Ngài chuyển hoá tất cả mọi sự thống khổ cho chúng sinh mà không hề dính mắc chút nào vào việc mình có độ thoát cho chúng sinh. Các Ngài không bao giờ tự cho rằng:

“Tôi đã cứu độ cho anh rồi, nay anh phải cám ơn tôi. Tôi đã giúp anh thoát khỏi mọi phiền não, anh phải tỏ ra biết ơn tôi”.

Chính vì chư vị Bồ – tát không có tâm niệm như vậy, nên các Ngài mới có thể ứng hiện ba mươi hai thân tướng, để kịp thời đáp ứng mọi tâm nguyện của mọi loài chúng sinh. Chẳng hạn như cần ứng hiện thân Phật để độ thoát chúng sinh, thì chư vị Bồ – tát liến ứng hiện thân Phật để giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh khiến họ được giải thoát. Nếu cần thiết hiện thân Bích Chi Phật, thì các Ngài liền ứng hiện thân Bích Chi Phật để giáo hoá chúng sinh, giúp họ được giải thoát. Cũng như vậy, các Ngài có thể ứng hiện thân A la hán, vua chúa… để giúp cho chúng sinh được độ thoát. Chư vị Bồ – tát có khả năng hóa hiện thành ba mươi hai ứng thân để cứu độ các loài chúng sinh. Các Ngài cũng có được mười bốn pháp vô uý và bốn pháp bất khả tư nghì. Đó là bốn loại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn. Các Ngài đã chứng đạt được quả vị chân thật viên thông, đã thành tựu quả vị Vô thượng bồ – đề. Đó là sự thành tựu quả vị của Bồ – tát Quán Thế Âm.

24. Tát bà tát bà

Tát bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người.

Bằng cách hành trì ấn pháp này, quí vị có khả năng đem sự an vui lợi lạc đến cho hết thảy mọi loài chúng sinh. Thiên vương, Diêm vương, Quỷ vương đều chấp hành theo người trì tụng ấn chú này. Quí vị bảo họ: “Hãy thả tội nhân này ra” thì Diêm vương liền tức khắc thả ra liền. Vì sao vậy? Vì quí vị đã có được Bảo ấn này.

Bảo ấn này cũng như ấn của vua vậy. Trên chiếu thư có ngọc ấn của vua thì khắp thiên hạ, ai có trách nhiệm gì cũng phải tuân theo chiếu thư mà thi hành, không ai dám chống lại. Với Bảo ấn, quí vị có thể làm lợi lạc, an vui cho mọi loài chúng sinh. Quí vị có thể chỉ bảo cho họ biết sự lợi lạc để phát nguyện hành trì. Và sẽ đạt được sự an lành. Vì vậy nên gọi là “Nhất thiết lợi lạc”.

Người Trung Hoa đều biết có một vị Tiên, biết sử dụng một ấn chú gọi là “Phiên thiên ấn”. Người con của Quảng Thành vương cũng có một phiên thiên ấn. Chính là ấn này vậy. Đạo Lão gọi là “Phiên thiên ấn”. Bồ – tát Quán Thế Âm gọi là “Bảo ấn”.

Nếu quí vị dụng công hành trì thì nhất định sẽ thành tựu Bảo ấn này. Khi thành tựu rồi, nếu có người vừa mới chết hoặc sắp chết, quí vị chỉ cần trì ấn này vào một tờ giấy, và viết vài dòng cho Diêm vương: “Hãy tha cho người này sống lại ngay. Hãy tha cho anh ta trở về dương gian”. Diêm vương không dám từ chối. Diệu dụng của Bảo ấn có thể giúp cho người chết sống lại. Nhưng để sử dụng được Bảo ấn này, trước hết quí vị phải thành tựu công phu tu tập đã. Nếu công phu chưa thành tựu thì chẳng có kết quả gì.

Thế nào nghĩa là thành tựu công phu tu hành? Cũng giống như đi học. Trước hết, quí vị phải vào tiểu học, rồi lên trung học, rồi thi vào đại học. Rồi cuối cùng có thể được học vị Tiến sĩ.

Tu tập để thành tựu Bảo ấn này cũng như đạt được học vị Tiến sĩ vậy. Nhưng tạm ví dụ vậy thôi, chứ Bảo ấn này không có gì so sánh được.

Tát bà tát bà nghĩa là “lợi lạc cho tất cả mọi loài chúng sinh”. Quí vị thấy sự diệu dụng vô biên đến như thế. Nên gọi ấn này là Bảo ấn. Nếu quí vị muốn sử dụng được Bảo ấn này thì phải công phu tu trì qua cả bốn mươi hai thủ nhãn. Tát bà tát bà chỉ là một trong bốn mươi hai ấn pháp ấy mà thôi.

Có người nghe tôi giảng như vậy sẽ khỏi nghĩ rằng: “Ta sẽ tu tập Bảo ấn này ngay để bất kỳ lúc nào có người sắp chết, ta sẽ sử dụng ấn này, ra lệnh cho Diêm vương không được bắt người ấy chết”. Quí vị cứ thực hành, quí vị có thể giúp người kia khỏi chết, như ng đến khi quí vị phải chết, thì chẳng có người nào giúp quí vị thoát khỏi chết bằng Bảo ấn này cả.

Tôi đã có dịp sử dụng ấn này hai lần. Một lần ở Mãn Châu và một lần ở Hương Cảng. Lần ở Mãn Châu là trường hợp cứu một người sắp chết. Người này chắc chắn sẽ chết nếu tôi không sử dụng Bảo ấn này. Vào một chiều trời mưa ngày 18 tháng 4 âm lịch. Một người tên là Cao Đức Phúc đến chùa Tam Duyên, nơi tôi đang ngụ. Anh ta quỳ trước tượng Phật, cầm một cây dao bọc trong giấy báo, chuẩn bị sẵn sàng chặt tay để cúng dường chư Phật. Quí vị nghĩ sao? Anh ta khôn ngoan hay không? Dĩ nhiên là quá ngu dại. Tuy nhiên sự ngu dại của anh ta lại xuất phát từ lòng hiếu đạo. Quí vị biết không. Mẹ anh ta bị bệnh trầm trọng gần chết. Do vì thường ngày mẹ anh ta nghiện thuốc phiện nặng. Nhưng bệnh bà quá nặng đến mức hút thuốc phiện cũng không được nữa. Bà ta nằm co quắp, chẳng ăn uống gì. Đầu lưỡi đã trở sang màu đen, môi miệng nứt nẻ. Bác sĩ Đông, Tây y đều bó tay, không hy vọng gì còn chữa trị được. Nhưng người con trai của bà nguyện: “Lạy Bồ – tát rất linh cảm, con nguyện đến chùa Tam Duyên chặt tay cúng dường chư Phật. Với lòng chí thành, con nguyện cho mẹ con được lành bệnh”.

Ngay khi chàng trai sắp chặt tay, có người nắm tay anh ta lôi lại đằng sau rồi nói: “Anh làm gì thế, anh không được vào đây mà tự sát”.

Anh ta trả lời:

– “Tôi chỉ chặt tay cúng dường chư Phật, cầu nguyện cho mẹ tôi được lành bệnh. Ông đừng cản tôi”.

Chàng trai chống lại, nhưng người kia không để cho anh ta chặt tay nên liền cho người báo cho Hoà thượng trụ trì biết. Hoà thượng cũng không biết phải làm sao, Ngài liền phái cư sĩ Lý Cảnh Hoa, người hộ pháp đắc lực của chùa đi tìm tôi.

Dù lúc ấy, tôi vẫn còn là chú Sa – di. Tôi được giao nhiệm vụ như là tri sự ở chùa Tam Duyên, chỉ dưới Hoà thượng trụ trì. Tôi chỉ là một chú tiểu, nhưng không giống như những chú tiểu cùng ăn chung nồi, cùng ngủ chung chiếu. Tôi thức dậy trước mọi người và ngủ sau tất cả mọi người. Tôi làm những việc mà không ai muốn làm và chỉ ăn một ngày một bữa trưa, không ăn phi thời. Tu tập chính là sửa đổi những sai lầm vi tế. Nếu khi chưa chuyển hoá được những lỗi lầm nhỏ nhặt ấy, có nghĩa là mình còn thiếu năng lực trong công phu.

Hoà thượng trụ trì giao việc đó cho tôi. Tôi liền đến bạch Hoà thượng:

– “Phật tử đến cầu Hoà thượng cứu giúp. Nay Hoà thượng lại giao cho con. Hoà thượng làm cho con thật khó xử”.

Hoà thượng trụ trì bảo:

– “Con hãy đem lòng từ bi mà cứu giúp họ”.

Hoà thượng dạy những lời rất chí lý. Tôi vốn chẳng ngại khó nhọc, nên khi nghe những lời đó, tôi rất phấn khích, tôi thưa:

– Bạch Hoà thượng, con sẽ đi.

Tôi bảo chàng trai:

– Anh hãy về nhà trước, tôi sẽ theo sau.

Anh ta nói:

– Nhưng thầy chưa biết nhà con?

Tôi đáp:

– Đừng bận tâm về tôi. Hãy cứ về nhà trước.

Lúc ấy là vào khoảng năm giờ chiều, mặt trời vừa xế bóng. Anh ta đi theo đường lộ chính, còn tôi đi theo đường mòn. Nhà anh ta cách chùa chừng sáu dặm. Anh ta quá đỗi sửng sốt khi về đến nơi, anh ta đã thấy tôi ngồi đợi anh trong nhà.

– Bạch thầy, sao mà thầy biết nhà con mà đến sớm thế?

Tôi nói:

– Có lẽ anh vừa đi vừa chơi, hoặc anh ham xem bóng đá hay truyền hình gì đó.

Cậu ta đáp:

– Thưa không, con cố hết sức đi thật nhanh để về nhà.

Tôi nói:

– Có lẽ xe đạp của anh đi không được nhanh như xe tôi, nên tôi đến trước.

Ngay khi vào thăm bà mẹ, tôi thấy không thể nào cứu sống bà ta được. Nhưng tôi vẫn quyết định cố gắng hết sức để cứu bà. Tôi dùng Bảo ấn viết mấy dòng:

“Chàng trai này có tâm nguyện rất trí thành, nguyện chặt tay cúng dường chư Phật để cứu mẹ sống. Tôi đã ngăn cản anh ta chặt tay. Bằng mọi cách, xin cho mẹ anh ta được sống”.

Tôi gửi Bảo ấn đi, sáng hôm sau bà ta vốn đã nằm bất động suốt bảy, tám ngày nay, chợt ngồi dậy gọi con trai bằng tên tục.

– Phúc ơi… Phúc ờ… mẹ đói quá, cho mẹ tí cháo…

Chàng trai suốt bảy, tám ngày nay không nghe mẹ gọi. Nay cực kỳ vui sướng. Anh ta chạy đến bên giường nói với mẹ:

– Mẹ ơi, mẹ đã nằm liệt giường suốt tám ngày nay. Nay mẹ khoẻ rồi chứ?

Bà ta trả lời:

– Chẳng biết bao lâu nữa. Mẹ bị rượt chạy trong một cái hang tối đen thăm thẳm không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng ánh sao hay đèn đuốc gì cả. Mẹ chạy và cứ chạy hết ngày này qua ngày khác để tìm đường về nhà mình. Mẹ có kêu, nhưng chẳng ai nghe. Cho đến đêm hôm qua, mẹ mới gặp một vị sư khổ hạnh mang y cà sa đã mòn cũ, vị này đã dẫn mẹ về nhà… Con cho mẹ ăn tí cháo loãng để cho đỡ đói.

Người con nghe mẹ nói đến vị sư, liền hỏi:

– Nhà sư mẹ gặp dung mạo như thế nào?

Bà đáp:

– Ngài rất cao. Nếu mẹ được gặp lại, mẹ sẽ nhận ra ngay.

Lúc đó tôi đang nghỉ trên giường. Anh ta liền đến bên tôi, chỉ cho mẹ và hỏi:

– Có phải vị sư này không?

Bà nhìn tôi chăm chú rồi kêu lên:

– Đúng rồi, chính thầy là người đã đưa mẹ về nhà.

Lúc đó, toàn gia quyến chừng mười người, gồm cả già trẻ, đều quỳ xuống trước mặt tôi thưa:

– Bạch Thầy, Thầy đã cứu mẹ con sống lại. Nay toàn gia đình chúng con cầu xin được quy y thọ giới với Thầy. Bất luận nhà chùa có việc gì, con nguyện đem hết sức mình xin làm công quả, và tuân theo lời chỉ dạy của Thầy để tu hành.

Về sau, dân cả làng này đều đến chùa xin quy y và cầu xin tôi chữa bệnh cho họ. Tôi bảo:

– Tôi chỉ có phép chữa bệnh bằng cách đánh đòn. Quí vị có chịu thì tôi chữa.

Họ đồng ý và tôi phải chữa. Có nghĩa là bắt người bệnh nằm xuống, đánh một người ba hèo bằng cái chổi tre. Đánh xong, tôi hỏi:

– Đã hết bệnh chưa?

Thật là ngạc nhiên. Họ lành bệnh thật!

Đó là một chuyện phiền phức xảy ra ở Mãn Châu. Lần thứ 2 tôi dùng Bảo ấn này là ở Hương Cảng. Khi bố của cô Madalena Lew 79 tuổi bị bệnh. Các vị bói toán đều bảo rằng ông ta chắc chắn sẽ qua đời trong năm nay. Ông ta đến gặp tôi xin quy y Tam Bảo để cầu nguyện gia hộ cho ông được sống thêm ít năm nữa.

Ông thưa:

– Bạch Thầy. Xin Thầy giúp cho con được sống thêm một thời gian nữa.

Tôi bảo:

– Thế là ông chưa muốn chết. Tôi sẽ giúp cho ông sống thêm 12 năm nữa? Được chưa?

Ông rất mừng vội đáp:

– Thưa vâng, được như thế thật là đại phúc.

Rồi tôi chú nguyện cho ông ta và ông ta được sống thêm 12 năm nữa.
Tuy nhiên, quí vị không nên dùng ấn pháp này để giúp cho người ta khỏi chết hoặc là cứu họ sống lại khi họ đã chết rồi. Nếu quí vị làm như vậy, quí vị trở nên đối đầu với Diêm vương. Lúc ấy Diêm vương sẽ nói:

– Được rồi. Thầy đã giúp cho người ta khỏi chết, nay Thầy phải thế mạng.

Đến khi quí vị gặp cơn vô thường; chẳng có ai dùng Bảo ấn này để giúp được cả. Nếu quí vị nghĩ rằng mình có thể sử dụng Bảo ấn để cứu mình khỏi chết là quí vị lầm. Diệu dụng của ấn pháp cũng giống như lưỡi dao, tự nó không thể cắt đứt được chuôi dao của chính nó. Nên khi quí vị gặp bước đường cùng, thì cũng giống như chuyện vị Bồ – tát bằng đất nung:

Bồ Tát bằng đất nung đi qua biển.

Khó lòng giữ thân được vẹn toàn.

Vậy nên nếu quí vị dù đã thông thạo trong khi sử dụng ấn pháp này, cũng phải công phu hành trì thêm. Vì lý do này mà tôi ít để ý đến việc riêng của người khác nữa.

25. Ma ra ma ra

Hai câu chú này, Hán dịch là “tăng trưởng”. Cũng có nghĩa là “như ý” hoặc “tuỳ ý”. Đó là công năng của Như ý Châu thủ nhãn, làm tăng trưởng phước huệ, làm cho mọi việc đều được tốt lành như ý.

“Như ý” nghĩa là tuỳ thuận với tâm nguyện mà được đáp ứng.

Quí vị có thấy lợi ích vô biên của ấn pháp này không? Vì vậy nên công năng ấn pháp này là thứ nhất trong bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp. Diệu dụng của Như ý Châu thủ nhãn vượt ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ.

Nếu quí vị muốn giàu có, hãy hành trì theo thủ nhãn ấn pháp này. Một khi đã thành tựu rồi, thì quí vị sẽ có được mọi thứ và không còn bận tâm vì nghèo khổ nữa. Quí vị luôn luôn giàu có và được vô lượng phước lạc.

26. Ma hê ma hê rị đà dựng

Ma hê ma hê. Hán dịch là “Vô ngôn cực ý”

“Vô ngôn” nghĩa là không cần phải nói nữa.

“Cực ý” có nghĩa là ý niệm kia đã đạt đến chỗ tối thượng, đã đạt chỗ vi diệu rồi.

Ma hê ma hê cũng còn có thể dịch là “tự tại”. Tự tại như Đại Phạm Thiên Vương: không buồn, không phiền, không lo, không giận. Suốt ngày đều được tự chủ và an vui.
Đây là “ngũ sắc vân thủ nhãn”. Khi biết ấn này, sẽ làm lưu xuất ra mây lành ngũ sắc, và hành giả sẽ đạt được năng lực tự tại phi thường. Diệu dụng và năng lực tự tại của ấn pháp này thực là vô lượng vô biên.

Rị đà dựng là “Thanh Liên Hoa thủ nhãn”. Có nghĩa là “Liên hoa tâm”. Khi quí vị hành trì ấn pháp này thành tựu, sẽ được mùi hương hoa sen xanh toả ra, và được mười phương chư Phật tán thán. Sự vi diệu thật khó có thể nghĩ bàn. Đúng là:

Pháp Phật cao siêu thật nhiệm mầu

Trăm ngàn ức kiếp khó tìm cầu!

27. Cu lô cu lô yết mông

Cu lô cu lô. Hán dịch là “tác pháp”, hoặc dịch là “tác dụng trang nghiêm”, lại còn có nghĩa là “xuy loa giải giới”. Đây ta chính là Bảo loa thủ nhãn ấn pháp.

Nay chúng ta đang sống trong thời mạt pháp. Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần trì tụng chú Đại Bi là khế hợp với chân tinh thần Phật pháp rồi, nhưng thực ra không phải thế. Chú Đại Bi là gọi thay cho bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và diệu dụng của chú Đại Bi là diệu dụng của bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp, đó chính là toàn thể của chú Đại Bi. Nếu quí vị chỉ biết trì niệm chú Đại Bi mà không hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì như người có tay mà không có chân, nên không thể đi được. Mặt khác, nếu quí vị chỉ biết hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp mà không trì niệm chú Đại Bi thì cũng như người có chân mà không có tay, không làm gì được cả. Cũng vô dụng mà thôi. Vậy nên để liễu triệt chú Đại Bi, trước hết quí vị phải thông đạt bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp rồi phải trì tụng chú Đại Bi nữa, mới được gọi là người thành tựu rốt ráo diệu pháp này của chư Phật.

Không phải chỉ vừa mới nghe pháp sư giảng về chú Đại Bi xong rồi liền nói:
– “à! Tôi đã hiểu được câu chú đó nghĩa là gì rồi”.

Hiểu như thế cũng chẳng ích lợi gì cả. Cũng giống như người có thân thể nhưng chẳng có tay chân gì cả. Quí vị đã có đủ cả thân thể, tay chân, phải giúp cho chúng hoạt động phối hợp với nhau mới làm nên phước đức được.

Bảo loa thủ nhãn ấn pháp là dùng để tác pháp khi quý vị kiến lập đạo tràng, quý vị nên dùng Bảo loa ấn pháp này. Khi quý vị tác pháp này thì những âm thanh vang lên tận cõi trời, thấu tận địa ngục. Khắp cõi nhân gian, và khắp mọi nơi đều có ảnh hưởng. Bất kỳ mọi nơi nào nghe đến âm thanh này đều ở trong sự điều khiển của người trì ấn pháp. Các loài yêu ma quỷ quái đều phải tuân phục, không thể xâm hại. Đây còn gọi là sự kiết giới.
ấn pháp này còn gọi là “tác dụng trang nghiêm”. Có nghĩa là dùng cơn lốc quang minh tâm lực của Bảo loa ấn pháp sẽ tạo nên một pháp âm vi diệu, khiến cho đất bằng hoá thành vàng ròng, đều được trang nghiêm bằng bẩy thứ châu báu. Thật là vi diệu khó thể nghĩ bàn. Quý vị Phật tử đang tu học Phật Pháp nên biết rằng trong 300 năm trở lại đây, không có ai hành trì được bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp và cũng chẳng có ai thông hiểu được các ấn pháp này.

Nay chúng ta đã hiểu được chú Đại Bi, chúng ta nên chí thành và phát tâm kiên cố hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp này. Rồi sẽ có được diệu dụng.

Yết mông là tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ của Đại phạm thiên, chứ không phải là ngôn ngữ của ấn Độ, nhưng văn pháp ngôn ngữ ấn Độ cũng căn cứ trên ngôn ngữ của Đại phạm thiên.

Yết mông là tiếng Phạn. Hán dịch là “biện sự”, cũng dịch là “công đức”. Có nghĩa là làm tất cả mọi việc có công đức lợi lạc cho mọi người. Làm việc lợi lạc công đức cho mọi người cũng chính là tạo công đức cho chính mình. Bồ – tát thực hành hạnh tư lợi và lợi tha, tự giác ngộ giải thoát cho mình và giác ngộ giải thoát cho người khác.

Câu chú này nói đến sự thực hành lục độ và vạn hạnh. Đó chính là Bạch Liên Hoa thủ nhãn ấn pháp. Hãy tưởng tượng quí vị đang cầm trong tay đoá hoa sen trắng. Tay quí vị cầm cành hoa sen và miệng trì niệm chú Yết mông yết mông…

Không những quí vị trì tụng chú mà còn hành trì mật ấn. Khi trì tụng cả hai pháp này, quí vị mới có thể tạo nên mọi công đức. Khi quí vị trì tụng chú Đại Bi, đồng thời cũng thông hiểu được cách hành trì bốn mươi hai thủ nhãn ấn pháp thì quí vị mới có thể thành tựu lục độ vạn hạnh. Diệu dụng bất khả tư nghì, không bao giờ nói hết được. Nếu có thể nói được chỗ nhiệm mầu ấy thì nó phải có ngần mé. Mà những điều mầu nhiệm thì không có hạn lượng, không có chỗ khởi đầu và kết thúc. Với sự trì niệm Yết mông, quí vị có thể thành tựu được vô lượng công đức. Trong nhiều đời sau, quí vị mãi mãi được trang nghiêm bởi hương thơm của hoa sen trắng và luôn luôn được hộ trì.

Sự vi diệu, mầu nhiệm của chú Đại Bi dù có tán thán cũng không bao giờ hết, không bao giờ cùng tận.

28. Độ lô độ lô, phạt già ra đế

Độ lô độ lô. Hán dịch là “độ hải” nghĩa là vượt qua biển khổ sinh tử. Còn dịch nghĩa “minh tịnh”.

Khi đã vượt qua biển khổ sinh tử rồi, quí vị sẽ đạt được trí tuệ sáng suốt, chứng nhập bản thể thanh tịnh, đến được bờ bên kia, tức thể nhập Niết Bàn. Từ trong bản thể sáng suốt thanh tịnh ấy, trí tuệ sẽ được lưu xuất, quí vị sẽ hiểu rõ được tất cả mọi pháp môn, chắc chắn quí vị sẽ chấm dứt được vòng sinh tử. Với đại định, tâm quí vị hoàn toàn thanh tịnh. Đó là định lực, khi quí vị có được định lực chân chánh thì có thể vãng sanh ở cõi tịnh độ tươi sáng, đó là thế giới Cực Lạc.

Đây là Nguyệt Tịnh Ma Ni thủ nhãn ấn pháp, là diệu pháp Đà – la – ni do Bồ – tát Nguyệt Quang tuyên thuyết. ấn pháp Nguyệt Tịnh thủ nhãn này có công năng đưa mọi người đến chỗ sáng suốt và an lạc.

Phạt già ra đế là Bàng Bi thủ nhãn ấn pháp.

Phạt Già Ra đế. Hán dịch là “Quảng bác trang nghiêm”, còn có nghĩa là “Quảng đại”. Cũng dịch là “độ sinh tử”. Nếu quí vị tu tập hành trì Bàng Bi thủ nhãn ấn pháp này thì quí vị có thể vượt qua biển khổ sinh tử, có nghĩa là giải thoát. Nếu quí vị không công phu hành trì ấn pháp bàng bi thủ nhãn này, thì không thể nào vượt thoát bể khổ sinh tử, đến bờ giải thoát, niết bàn được.

29. Ma ha phạt già da đế

Câu chú này có nghĩa là “Tối thắng, đạipháp đạo”.

Pháp là quảng đại, tối thắng và đạo cũng quảng đại, tối thắng. Pháp đạo là chân lý vượt lên trên tất cả mọi sự thù thắng nhất trên đời.

Đây là Bảo Kích thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng hàng phục các loại thiên ma và ngoại đạo. Công năng của ấn pháp này rất lớn. Chẳng hạn ấn pháp này có thể bảo vệ quốc gia chống nạn ngoại xâm. Nếu quốc gia của quí vị sắp bị xâm lăng, và nếu quí vị hành trì ấn pháp này thì vô hình trung, quân giặc bắt buộc phải rút lui.

30. Đà la đà la

Tiếng Phạn rất khó hiểu. Ngay cả những ai đã học tiếng Phạn thông thạo rồi cũng khó có thể hiểu được mật chú và giảng giải rõ ràng được. Tôi chỉ nhờ hiểu một chút ít thần chú Đại Bi mà thôi.

Đà là đà la là Tịnh bình thủ nhãn ấn pháp. Trong tịnh bình này chứa nước cam lồ. Bồ – tát Quán Thế Âm dùng cành dương liễu rưới nước cam lồ lên khắp chúng sanh trong sáu đường. Bất luận ai gặp nạn khổ hay bệnh tật gì, nếu được Bồ – tát Quán Thế Âm rưới nước cam lồ thì đều giải thoát khỏi tai nạn ấy.

Đà la đà la. Hán dịch là “Năng tổng trì ấn”, là tâm lượng của toàn chúng sinh. Chính là Bồ – tát Quán Thế Âm dùng Cam lồ thủ nhãn ấn pháp, Tịnh bình thủ nhãn ấn pháp và Dương chi thủ nhãn ấn pháp – tất cả ba ấn pháp ấy để rưới nước cam lồ lên toàn thể chúng sinh, cứu độ chúng sinh ra khỏi tam đồ lục đạo.

31. Địa lỵ ni

Địa lỵ ni. Hán dịch rất nhiều nghĩa. Thứ nhất là “thậm dõng” nghĩa là dũng khí mãnh liệt. Cũng có nghĩa là “tịnh diệt hoặc khiết tịnh”.

“Thậm dũng” là dạng tướng động.

“Tịnh diệt” là dạng tĩnh.

Còn dịch là “Gia trì và thôi khai”.

– “Gia trì” có nghĩa là làm cho các ác pháp đều được chuyển hoá, hướng về phụng hành theo thiện pháp.

– “Thôi khai” là làm cho các nghiệp chướng, tai nạn của chúng sinh đều được tiêu trừ.

Đây là Cu thi thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Gọi tắt là thiết câu ấn pháp, có công năng làm cho tất cả quỷ thần, thiên long bát bộ đến hộ trì cho hành giả. Nếu quí vị công phu hành trì thành tựu thủ nhãn này, thì có thể bảo thiên long làm mưa và sẽ có mưa ngay, nếu hành giả cần có gió, họ sẽ làm ra gió ngay, khi hành giả muốn mưa gió đừng hoành hành thế gian nữa, mưa gió sẽ hết ngay.

Quí vị sẽ nói: “Tôi không tin như vậy”. Đúng vật! Đó chính là lý do mà tôi muốn nói cho quí vị nghe, tất cả chỉ là vì quí vị không tin. Không có niềm tin và không ở trong cảnh giới này thì khó lòng hiểu nổi.

Nếu muốn, quí vị có thể hỏi những người vừa mới từ Đài Loan trở về ngày hôm nay về cơn mưa ở Đài Loan. Khi tôi nói chuyện với Phật tử ở Đài Loan qua điện thoại, họ cho biết trời đang mưa và rất lạnh. Họ mong muốn thời tiết được ấm áp và bớt mưa. Tôi bảo họ hãy yên tâm, chuyện đó sẽ xảy ra. Họ lại thắc mắc:

– Sư phụ có thể khiến trời hết mưa hay sao?

Tôi chỉ nói vắn tắt:

– Quí Phật tử hãy đợi xem trời có tạnh mưa hay không?

Ngay khi tôi vừa cúp điện thoại, thì trời bắt đầu tạnh ráo. Họ đều cho đó là chuyện lạ kỳ. (Những ai đã đến Đài Loan năm 1969 để dự giới đàn, đều có thể chứng kiến chuyện này. Trời mưa dầm ở Keelong Đài Loan ít nhất cũng là 48 ngày, nhiều nhất là 53 ngày. Chúng tôi đang ở Đài Loan để thọ giới. Cả tự viện không còn chất đốt, một khi củi đã bị ướt rồi, thì không còn cách nào để sưởi cho khô lại được. Tuy nhiên,vào sáng ngày 18/4 như đã nói ở trên, đúng ngay lúc chúng tôi vừa chấm dứt cuộc điện đàm thì mặt trời vừa hiện ra, bầu trời trở nên sáng trong và khí trời trở nên ấm áp liền. Chú thích của người dịch từ Hoa văn sang Anh Ngữ).

Thực ra, đó chẳng phải là gì khác, chính là năng lực của thiết câu thủ nhãn ấn pháp. Quí vị chỉ cần kiết ấn và gọi: “Thiên long, đừng làm mưa nữa!” thì trời sẽ dứt mưa ngay. Loài rồng sẽ chấp hành theo lệnh của quí vị và chỉ khi quí vị đã thành tựu ấn pháp này và đã thông thạo thiết câu thủ nhãn. Rồng phun mưa sẽ tuân theo ấn pháp này và đình chỉ việc làm mưa liền.

Quí vị sẽ nghĩ là tôi nói đùa nhưng đúng là như vậy. Bây giờ, tôi đang giảng kinh cho quí vị nghe và tôi đang nói với quí vị bằng chân ngữ. Đây không phải là chuyện nói đùa.

32. Thất phật ra da

Mỗi khi quí vị niệm Thất Phật ra da thì toàn pháp giới này có một luồng chớp sáng phát ta. Cứ mỗi niệm Thất Phật ra da là có một luồng quang minh phóng ra bao trùm cả vũ trụ.

Thất Phật ra da được dịch là “phóng quang”. Còn dịch là “tự tại”. Phiên âm từ tiếng Phạn “Isara” như trong chữ “Avalokihesvara”. ở đây có nghĩa là “Quán”, vì có quán chiếu thâm sâu rồi mới được “tự tại”. Nếu quí vị không có sức quán chiếu thâm sâu, thì quí vị sẽ không đạt được năng lực tự tại.

Quán chiếu nghĩa là hướng vào bên trong tự tâm mà công phu chứ không phải hướng ra ngoại cảnh bên ngoài. Nghĩa là hướng vào bên trong mà quán chiếu không ngừng. Hãy tự hỏi: “Ta có hiện hữu hay không?”. Ông chủ có hiện hữu trong chính tự thân quí vị hay không? Quí vị có làm chủ được mình hay không? Mặt mũi xưa nay của ông chủ có hiện hữu hay không? Thường trụ chơn tâm thể tánh thanh tịnh có hiện hữu hay không? Nếu những cái đó đều hiện hữu, có nghĩa là quí vị đạt được tự tại. Còn nếu không hiện hữu, có nghĩa là quí vị không có được tự tại.

Sự phóng quang cũng mang ý nghĩa tự tại. Nếu quí vị đạt được năng lực tự tại, thì quí vị có thể phóng quang. Nếu chưa có được năng lực tự tại, thì không thể phóng quang được.

Thất Phật ra da cũng được dịch là “Hoả diệm quang”, cũng gọi là Hoả quang. Đó là lửa, nhưng không phải là lửa phát sinh từ tập khí phiền não, như quí vị thường nói: “Tôi vừa nổi nóng như lửa”. Đó cũng không phải là lửa xuất phát từ sự sân hận, phẫn nộ, căm hờn của quí vị, mà đó chính là lửa trí tuệ. Đó cũng chính là nước từ trí tuệ tiết ra để dập tắt lửa vô minh. Trí tuệ chân chính hiển lộ khi lửa vô minh bị dập tắt. Đó chính là Hoả Diệm Quang.

Khi quí vị trì tụng Thất Phật ra da tức là quí vị đang phóng quang. Nhưng trước tiên quí vị phải có được năng lực tự tại. Không có năng lực tự tại thì quí vị không thể nào phóng quang được. Hãy nhớ kỹ điều này.

Đây là Nhật Tinh Ma Ni thủ nhãn ấn pháp. ấn pháp này có công năng chữa trị bệnh mắt mờ không thấy rõ. Dùng ấn pháp này khiến cho mắt được sáng lại.

33. Giá ra giá ra

Giá ra giá ra dịch nghĩa là “hành động”. Đó là hành động như quân đội thi hành một mệnh lệnh hành quân. Hành quân là một mệnh lệnh nếu quí vị không tuân hành, có nghĩa là chống lệnh.

Đây là Bảo đạc thủ nhãn ấn pháp. Khi quí vị rung chuông, âm thanh vang lên khắp không gian, thông cả thiên đàng, chấn động cả địa giới. Nếu quí vị cần thực hiện việc gì, chỉ cần rung chuông lớn, các loài chư thiên, thiện thần, yêu ma quỷ quái đều tuân theo mệnh lệnh của quí vị. Chẳng hạn như khi có động đất, quí vị chỉ cần rung chuông lên rồi ra mệnh lệnh: “Quả đất không được rung lên như vậy”, trái đất trở về trạng thái yên bình ngay.
Bảo đạc thủ nhãn ấn pháp cực kỳ diệu dụng. Nếu quí vị muốn hát với một âm điệu tuyệt vời, thì hãy công phu hành trì ấn pháp này. Khi công phu thành tưu rồi, tiếng hát của quí vị trong suốt như tiếng đại hồng chung vang lên trong không gian.

34. Ma ma phạt ma la

Ma ma. Hán dịch là “ngã sở thọ trì”. Đó chính là một loại mệnh lệnh hành động. Có nghĩa là “mọi việc tôi làm bảo đảm chắc chắn phải được thành tựu”.

Ma ma là Bạch phất thủ nhãn ấn pháp. ở Trung Hoa, các đạo sĩ và Tăng sĩ Phật giáo thường sử dụng phất trần, các vị cao tăng thường cầm phất trần khi đăng bảo toạ để thuyết pháp.

Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có công năng trừ sạch mọi nghiệp chướng của thân, trừ được mọi chướng nạn và bệnh tật. Chỉ cần phất lên thân vài lần là có thể tiêu trừ mọi nghiệp chướng và chữa lành mọ ma chướng sinh ra bệnh tật.

Bạch phất thủ nhãn ấn pháp có rất nhiều công dụng, nhưng người biết cách dùng ấn pháp này lại rất ít. Tôi biết hiện nay có rất ít người sử dụng được ấn pháp này.
Năm người Tây phương đầu tiên vừa đi thọ giới Cụ túc ở Đài Loan đã trở về. Họ đã trở thành những vị Tỷ Khưu, Tỷ Khưu Ni chân chính. Họ vừa về đến phi trường vào lúc 4 giờ 30 chiều nay, chuyến bay 910 của hãng hàng không Trung Hoa. Ngày nay Phật giáo Giảng Đường đã có được nhiều xe hơi nên toàn thể Phật tử hộ pháp trong đạo tràng cũng như toàn thể Phật tử ở San Francisco – Cựu Kim Sơn – Hoa Kỳ – đều có thể ra phi trường để đón mừng các vị tân Tỷ Khưu.

Bình thường, tôi chẳng muốn đến phi trường nhưng trong chuyến bay ấy có chở về vài tượng Phật, nên tôi ra phi trường để nghênh đón tượng Phật chứ không phải để đón các đệ tử của tôi. Các đệ tử của tôi cũng không cần tôi đón, cũng chẳng cần đưa. Khi họ đi Đài Loan thọ giới, tôi đã nói với họ rằng:

“Khi mê thì thầy độ

Khi ngộ rồi tự độ”.

Nay họ phải tự độ chính họ, họ đã ra đi, nay lại trở về. Chắc chắn họ phải tự tìm ra con đường từ phi trường về chùa. Họ chẳng cần tôi phải chỉ dẫn: “Quẹo ở đó, đi theo đường này, đó là đường về chùa”.

Điều buồn cười nhất là khi họ viết thư báo cho tôi biết họ đã bỏ quên một thùng Kinh. Tôi bảo:

“Bỏ quên kinh chẳng có gì quan trọng. Điều quan trọng chính là không có ai trong các con bị bỏ quên”. Năm người đi thọ giới và nay năm người đều đã trở về. Sao vậy? Vì tôi đã mua bảo hiểm ở chư vị Bồ – tát, nên để cho bất kỳ ai bị bỏ sót lại là điều không thể chấp nhận được. Nếu một người không về, tức là chư vị Bồ – tát không thực hiện đúng hợp đồng. Thế nên tôi rất tin tưởng rằng tất cả các giới tử sẽ trở về và dịch vụ bảo hiểm của chư vị Bồ – tát không cần phải thanh toán hợp đồng.

Quí vị nên nhớ một điều. Những người thọ giới Cụ túc trở về hôm nay là những vị Tổ khai sơn của Phật giáo Mỹ quốc. Đừng xem việc này đơn giản. Điều này rất chân thực. Đừng như những kẻ tự cho mình là Phật tử, chỉ nằm ở nhà mà thích gọi mình là “Tổ tại gia”. Thực vậy, cách đây vài hôm, có một vị Tổ sư tự phong đến đây và muốn hát tặng cho tôi nghe. Tôi giễu cợt ông ta: “Thật chán khi nghe ông hát”. Ông ta chỉ bật lên: “ồ!”, một tiếng rồi bỏ đi.

Phạt ma ra là “Hàng ma kim cang hộ pháp”, tay cầm bánh xe bằng vàng. Vị hộ pháp này có thể hoá thân lớn như núi Tu Di.

Phạt ma ra. Hán dịch là “Tối Thắng Ly Cấu”, có nghĩa đó là pháp thù thắng nhất, xa lìa tất cả mọi cấu nhiễm ở thế gian. Còn có nghĩa là “vô tỷ như ý”. Vì không có gì có thể sánh với pháp này và tuỳ tâm nguyện của mình mà mọi điều xảy ra như ý muốn.

Đây là Hoá cung Điện thủ nhãn ấn pháp. Nếu quí vị hành trì được ấn pháp này thành tựu, thì đời đời quí vị sẽ được sống cùng một trụ xứ với đức Phật (như trong một cung điện), không còn phải thọ sinh vào các loài thai sinh, noãn sinh và thấp sinh nữa. Công dụng của sự thành tựu ấn pháp này là đời đời được sống cùng chư Phật.

35. Mục đế lệ

Mục đế lệ là Dương chi thủ nhãn ấn pháp của đức Phật. Đó là nhánh cây mà quí vị thường thấy Bồ – tát Quán Thế Âm cầm ở một tay, còn tay kia Bồ – tát cầm một tịnh bình. Nhành dương này được Bồ – tát nhúng vào tịnh bình rồi rưới lên cho tất cả mọi chúng sinh bị đau khổ. Nước này không như nước thường. Đó là nước cam lồ. Chúng sinh nào được nước này tưới nhuận sẽ có nhiều lợi lạc. Nước cam lồ có thể giúp cho mọi chúng sinh thoát khỏi khổ luỵ đói khát và bản tâm đạt được thanh lương.

Mục đế lệ còn dịch nghĩa là “giải thoát”. Đó là giải thoát khỏi mọi khổ nạn, bệnh tật và chướng ngại. Nên Bồ – tát Quán Thế Âm thường dùng Dương chi thủ nhãn ấn pháp này để giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn và những điều bất như ý. Bề ngoài, chú này dường như không có gì quan trọng lắm, nhưng một khi quí vị công phu hành trì ấn pháp này thành tựu rồi, thì không những quí vị có thể giúp giải thoát cho chúng sinh khỏi bệnh tật và khổ nạn mà còn có thể hàng phục cả thiên ma ngoại đạo. Khi những thiên ma ngoại đạo được thấm nhuận nước cành dương này, họ tự nhiên hồi tâm hướng thiện, thực hành theo chánh pháp. Do vậy, Dương chi thủ nhãn có diệu dụng vô cùng vô tận, không thể nghĩ bàn.

Giọt nước cam lồ từ bàn tay Bồ – tát Quán Thế Âm không những chỉ giúp cho quí vị thoát khỏi mọi bệnh tật, khổ nạn mà còn có một diệu dụng khác, khi một người sắp chết, nếu có phước duyên, được Bồ – tát Quán Thế Âm rảy nước lồ thì có thể sống lại. Tất cả các loài cây cỏ thảo mộc đã khô héo nếu được nước cam lồ tưới xuống cũng được hồi sinh. Cây cỏ là loài vô tình, mà khi được nước cam lồ tưới tẩm còn được nảy mầm, đơm hoa, kết trái như vậy nên chúng sinh là loài hữu tình sẽ được lợi lạc biết bao. Đó là diệu dụng của Dương chi thủ nhãn ấn pháp.

36. Y hê y hê

Y hê y hê là Độc lâu trượng ấn thủ nhãn ấn pháp. Hán dịch là “thuận giáo”.

Nghĩa là một khi quí vị nhờ ai làm việc gì đó, họ đều ưng thuận. Khi quí vị dùng chánh pháp để giáo hoá, họ đều vâng lời. Câu chú này còn dịch là “tâm đáo”. Nghĩa là trong tâm hành giả ước nguyện điều gì, nhờ năng lực của chú này đều được thành tựu. Câu chú này khiến cho Ma – hê – thủ – la vương, là một Thiên ma ngoại đạo thường cho rằng mình là vĩ đại nhất, cũng phải cung kính chắp tay đến nghe lời chỉ giáo khi nghe có người trị tụng thần chú này, không dám trái nghịch. Thế nên khi quí vị trì niệm câu Y hê Y hê, thì Ma – hê – thủ – la vương liền đến, bất kỳ tâm nguyện của hành giả như thế nào, vị này liền thi hành ngay, đáp ứng đúng như sở nguyện của người trì chú.

Nguồn: http://loiphatday.org/

Công năng hiển và mật của Chú Đại Bi

Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (Phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú).

Chú Đại Bi Từng Dòng:

Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần).
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.

1. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
2. Nam mô a rị da
3. Bà lô yết đế thước bát ra da
4. Bồ Đề tát đỏa bà da
5. Ma ha tát đỏa bà da
6. Ma ha ca lô ni ca da
7. Án
8. Tát bàn ra phạt duệ
9. Số đát na đát tỏa
10.Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da
11.Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà
12.Nam mô na ra cẩn trì
13.Hê rị, ma ha bàn đa sa mế
14.Tát bà a tha đậu du bằng
15.A thệ dựng
16.Tát bà tát đa (Na ma bà tát đa)
17.Na ma bà dà
18.Ma phạt đạt đậu đát điệt tha
19.Án. A bà lô hê
20.Lô ca đế
21.Ca ra đế
22.Di hê rị
23.Ma ha bồ đề tát đỏa
24.Tát bà tát bà
25.Ma ra ma ra
26.Ma hê ma hê rị đà dựng
27.Cu lô cu lô yết mông
28.Độ lô độ lô phạt xà da đế
29.Ma ha phạt xà da đế
30.Đà ra đà ra
31.Địa rị ni
32.Thất Phật ra da
33.Giá ra giá ra
34.Mạ mạ phạt ma ra
35.Mục đế lệ
36.Y hê di hê
37.Thất na thất na
38 A Ra sâm Phật ra xá lợi
39.Phạt sa phạt sâm
40.Phật ra xá da
41.Hô lô hô lô ma ra
42.Hô lô hô lô hê rị
43.Ta ra ta ra
44.Tất rị tất rị
45.Tô rô tô rô
46.Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ
47.Bồ đà dạ bồ đà dạ
48.Di đế rị dạ
49.Na ra cẩn trì
50.Địa rị sắc ni na
51.Ba dạ ma na
52.Ta bà ha
53.Tất đà dạ
54.Ta bà ha
55.Ma ha tất đà dạ
56.Ta bà ha
57.Tất đà du nghệ
58.Thất bàn ra dạ
59.Ta bà ha
60.Na ra cẩn trì
61.Ta bà ha
62.Ma ra na ra
63.Ta bà ha
64.Tất ra tăng a mục khê da
65.Ta bà ha
66.Ta bà ma ha a tất đà dạ
67.Ta bà ha
68.Giả kiết ra a tất đà dạ
69.Ta bà ha
70.Ba đà ma kiết tất đà dạ
71.Ta bà ha
72.Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ
73.Ta bà ha
74.Ma bà rị thắng yết ra dạ
75.Ta bà ha
76.Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da
77.Nam mô a rị da
78.Bà lô kiết đế
79.Thước bàn ra dạ
80.Ta bà ha
81.Án. Tất điện đô
82.Mạn đà ra
83.Bạt đà gia
84.Ta bà ha.

Chú Đại Bi cũng chia ra làm hai như vậy.
Hiểu rõ phần hiển
Phần hiển của chú Đại Bi là câu: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi”. Câu Kinh này giải thích công năng và diệu dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có hiệu nghiệm.
Nội dung của câu “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại Đại bi” muốn nói về Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Phật Chuẩn Đề có nghìn tay, nghìn mắt, trong mỗi tay có một con mắt và mỗi tay cầm mỗi khí cụ khác nhau.
Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần.
Vì thế trong Phát Bồ Đề Tâm Luận của Bồ tát Thiên thân nói rằng: “Bồ tát phát tâm lấy lòng từ bi làm đầu. Lòng đại từ của bồ tát vô lượng vô biên nên sự phát tâm cũng vô lượng vô biên mênh mông như chúng sanh giới.
Như hư không giới, không chỗ nào là không cùng khắp, sự phát tâm của Bồ Tát cũng như thế, vô lượng vô biên không có cùng tận”.
Trong Kinh Duy Ma Cật đức Phật cũng dạy rằng: “Người có trí không nên so sánh với các hàng Bồ Tát. Biển sâu còn có thể dò được, chớ thiền định, trí tuệ, tổng trì, biện tài, tất cả công đức của Bồ Tát không thể đo lường được”.
Như vậy mỗi bàn tay là biểu trưng cho công hạnh của Bồ tát vào đời độ sinh với lòng Đại từ đại bi. Bởi vì chúng sinh căn cơ không giống nhau, cho nên Ngài Quan Thế Âm hóa hiện ra nghìn tay (tức nghìn muôn hạnh).
Đây là phương tiện của Quán Thế Âm để độ sinh viên mãn, Bồ Tát có tâm đại từ đại bi nhưng cần phải có đại trí tuệ, vì vậy mỗi lòng bàn tay đều có một con mắt. Con mắt là biểu trưng cho trí truệ, một nghìn con mắt biểu trưng cho đại trí tuệ.
Nếu hành giả thực hành con đường Bồ Tát hạnh vào đời độ sinh, chỉ có từ bi mà không có trí tuệ, khi gặp chướng duyên dễ bất thối tâm bồ đề; và sự việc hoằng Pháp độ sinh sẽ gặp trở ngại
Chúng ta hành Bồ Tát đạo vì lòng từ bi cần phải có trí tuệ thì chúng ta không có gặp chướng ngại (vô = không, ngại = chướng ngại)
Bồ Tát phát tâm tu tập Vô thượng Bồ đề lại cần có bốn duyên: “Một là suy nghĩ đến chư Phật; Hai là quán các tội lỗi của tự thân; Ba là thương xót chúng sanh; Bốn là cầu quả tối thắng, tức quả Phật.” Nhờ có bốn nhân duyên kia mà tâm bồ đề thêm kiên cố.
Trong Đại Trí Độ Luận có nói: “Bậc Bồ Tát luôn có tâm dõng mãnh bất thoái ở giữa chúng sinh khởi đại bi tâm thành lập Đại thừa, thực hành đại đạo, thuyết Pháp phá trừ đại tà kiến, đại phiền não, đại ái mạn, đại ngã tâm cho mình và hết thảy chúng sinh”.
Đó là tâm “Đại Bi” của Bồ Tát thật bao la rộng lớn, hạnh nguyện của Ngài vô cùng tận. “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi”.
Bồ Tát hành Bồ tát đạo dùng vô số phương tiện quyền xảo để phù hợp căn cơ của mỗi chúng sinh hóa độ (thiên thủ = nghìn tay chỉ cho phương tiện, hay công hạnh) còn nghìn mắt là chỉ cho Trí tuệ thậm thâm của Bồ Tát để thấu hiểu hết thảy các Pháp, độ tận hết thảy chúng sinh.
Nếu còn một chúng sinh đau khổ, Bồ Tát thệ nguyện không thành Vô thượng Bồ đề như Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ đề”.
Phẩm chất của Bồ Tát: Tinh thần là Trí tuệ (nghìn mắt); Sức mạnh là Thiền định; Sắc thái Đại từ bi (nghìn tay). Bồ Tát có ba sắc thái này thì hành Bồ Tát đạo đạt đến chỗ “vô ngại”.
Khi vị Bồ Tát có đại bi thì cũng đạt được đại trí tuệ (nghìn mắt nằm trong nghìn cánh tay). Trí tuệ và từ bi là hai diệu tánh của Bồ Tát Quan Thế Âm để độ sanh. Khi Ngài có đầy đủ hai đức Đại bi và Đại trí thì trên con đường độ sinh, tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa độ viên mãn (vô ngại).

Đó là ý nghĩa: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi”.
 Chú Đại Bi được rất nhiều người trì niệm.
Hạnh Nguyện khác nhau của Bồ Tát: Lấy “Hạnh” để hóa độ chúng sinh gọi là “Đại Hạnh” Phổ Hiền Bồ Tát. Lấy “Nguyện” để độ sinh như “Đại Nguyện” Địa Tạng Vương Bồ Tát. Lấy “Đại Hùng”, “Đại Lực” để làm động cơ thúc đẩy độ sinh như “Đại Hùng”, “Đại Lực” Đại Thế Chí Bồ Tát. Lấy “Trí làm yếu chỉ như “Đại Trí” Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Lấy Đại Từ, Đại Bi để hóa độ chúng sinh gọi “Đại Từ” “Đại Bi” Quan Thế Âm Bồ Tát.
Hình Tướng khác nhau của Bồ Tát: Hình tướng xuất gia: Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát. Hình tướng tại gia: Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát. Hạnh nguyện của quý Ngài độ sinh ở trần gian.
Tinh thần nhập thế nên hiện tướng tại gia để hòa vào thế gian độ sinh vì lòng từ bi. Hành động vị tha ấy trong Đại Thừa gọi là: “Vô Công Dụng Hạnh – Anābhogacart) tức là hành động không dụng công, không vì mục đích tư lợi, chính vì lòng từ bi trí tuệ như thế giúp cho hàng Bồ Tát có được tâm vô phân biệt.
Hàng Bồ Tát tu diệt hết phiền não và đạt đến vô sanh pháp nhẫn, đạt đến vô ngã, không còn chấp vào hình tướng, nên hình tướng xuất gia hay tại gia, có tóc hay không có tóc điều đó không quan trọng (tóc = phiền não).
Riêng Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì hạnh nguyện độ chúng sinh ở Địa ngục, ở trong địa ngục không có Tam bảo, Chúng sinh thọ quả báo đau khổ khi nhìn hình tướng Ngài Địa Tạng là hình tướng xuất gia đầu tròn áo vuông, giúp cho phạm nhân khi nhìn Ngài để phát khởi tâm Bồ Đề, giác ngộ nghiệp ác của mình đã tạo và quy hướng Tam bảo, phát lồ sám hối thoát khỏi địa ngục.
Trong Phật giáo, mục đích duy nhất “Duy tuệ thị nghiệp = lấy trí tuệ làm sự nghiệp”, tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Đại trí biểu trưng cho sự nghiệp. Nhưng ít Phật tử nhắc đến Ngài Văn Thù Sư Lợi, Ngài Thế Chí, Ngài Phổ Hiền, bởi chủ yếu tín ngưỡng Ngài Quan Thế Âm và Ngài Địa Tạng; vì Đại hạnh, Đại Nguyện, Đại Lực hay Đại Trí cũng đặt trên nền tảng là Đại Bi.
Đại bi là lẽ sống là hạnh nguyện độ sinh, trái tim của Bồ tát quằn quại khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ, biết bao tiếng rên xiết trong địa ngục, trong đêm trường sinh tử. Vì vậy, chư vị Bồ tát hóa thân vào Địa Ngục để độ sinh như ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì lòng đại từ, đại bi không ngần ngại (vô ngại).
Hoặc như Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Tiêu Diện vào cảnh giới Ngã quỷ để độ chúng ma mà không có một chút ngần ngại nào cả, cho nên Bồ Tát có 32 ứng hóa thân là để tùy thuận chúng sinh mà hóa độ.
Trái tim Bồ Tát luôn tuần hành nhịp nhàng, trong sáng, thanh tịnh không vướng vào “tự ngã,” đạt đến sự vô phân biệt, không có ranh giới, tâm từ bi ấy thể hiện tính bình đẳng giữa mọi người, như mặt trăng không phân biệt quốc gia nào. Nó luôn vận hành liên tục để tỏa sáng trong đêm trường. Đó là ý nghĩa câu Chú Đại Bi: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi”.
Riêng về phần Mật
Phần mật của Chú Đại Bi bắt đầu từ câu: “Tâm đà la ni” cho đến câu 84. “Ta bà ha” là phần ẩn nghĩa, hàng phàm phu không hiểu được phần này, chỉ có chư Phật mới hiểu.
Như vậy, phần hiển là để chúng ta hiểu nghĩa công dụng lợi ích của Kinh, Chú mà hành trì.
Còn phần mật hành trì để tâm chúng ta thanh tịnh và an lạc (vô ngại), niệm Chú Đại Bi là đọc xưng danh hiệu của 84 vị Hộ Pháp Kim Cang Thần hóa thân của ngài Quan Thế Âm Bồ Tát để đối trị tiêu diệt 84 phiền não chướng tư hoặc và lậu hoặc.
Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa. Nhưng phần hiển là phần giúp hành giả hiểu rõ công năng và lợi ích cho việc hành trì Chú Đại Bi.
Khi hành trì chú Đại Bi để đạt quả vị Vô thượng Bồ đề đòi hỏi hành giả phải: Tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm đạt đến vô niệm, tâm chẳng nhiễm trước, tâm không, tâm phải cung kính, tâm biết khiêm nhường, tâm không tạp loạn, tâm không cố chấp, phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Trì niệm Chú Đại Bi đúng cách

TRÌ NIỆM THẦN CHÚ ĐẠI BI ĐÚNG CÁCH

A.   Những bước chuẩn bị trước khi trì niệm thần chú đại bi.

Bồ Tát Quán Thế Âm đã hứa với chúng ta: “Nếu hành giả có thể tụng trì đúng pháp, khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh, lúc ấy ta sẽ sắc cho tất cả Thiện thần, Long vương, Kim Cang, Mật tích thường theo ủng hộ, không rời bên mình, như giữ gìn tròng con mắt hay thân mạng của chính họ“.

Như vậy, thế nào là tụng trì chú đại bi đúng pháp?

Trong phần hình trạng tướng mạo đã chỉ rõ mười đặc tính cốt yếu của Thần chú Đại Bi mà quan trọng hàng đầu là tâm Đại Từ Bi, cho nên mỗi lần trì tụng thần chú này hành giả phải bắt đầu hướng tâm vào việc quán tưởng khởi lòng thương xót tất cả chúng sanh. Một cách lý tưởng, để đạt được những công năng mà thần chú mang lại, trong thời gian trì tụng, hành giả phải giữ gìn giới hạnh, đặc biệt là sát, đạo, dâm, vọng. Phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi, cùng các thức ăn hôi hám. Tốt nhất là nên ăn chay.

Phải giữ vệ sinh thân thể, thường xuyên tắm gội, thay đổi y phục sạch sẽ, không nên để cho trong người có mùi hôi. Trước khi trì chú cũng phải đánh răng, súc miệng sạch sẽ, nếu trước đó có đi đại tiện, tiểu tiện thì phải rửa tay sạch sẽ trước khi trì tụng.Tóm lại, “Giữ gìn trai giới,ở nơi tịnh thất,tắm gội sạch sẽ, mặc y phục sạch, treo phan đốt đèn, dùng hương hoa cùng thực phẩm cúng dường, buộc tâm một chỗ”, đó là tất cả những điều kiện lý tưởng để hành giả trì chú Đại Bi. Tuy nhiên, như phần trên đã nói, Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ yêu cầu chúng ta hai điều mỗi khi trì tụng chú Đại Bi, đó là thành tâm và không mưu cầu những việc bất thiện. Điều này cho phép hành giả có thể trì tụng bất cứ lúc nào mà điều kiện cho phép. Trên xe, trên tàu, trên máy bay, tại sở làm, tại nhà… Với tâm thành, tâm chúng ta lúc đó sẽ hòa nhập vào lời trì tụng đểø cùng thể nhập vào pháp giới, mười phương chư Phật. Bơỉ vì Bồ Tát đã cho chúng ta biết, mỗi lần trì tụng thần chú Đại Bi, thập phương chư Phật đều đến chứng minh.

Bàn thờ:

Hành giả nên có một phòng riêng yên tỉnh để lập bàn thờ Bồ tát. Bàn thờ nên có hình tượng Bồ Tát ngàn tay, ngàn mắt. Nếu không có thì có thể sử dụng bất cứ hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm nào mà mình hiện có. Hình tượng Bồ Tát nên để day mặt về hướng Tây. Trên bàn thờ tuy không bắt buộc nhưng nên có hoa tươi, trái cây, lư hương để cắm nhang, nước cúng. Nên để đèn sáng mỗi khi hành lễ.

Bàn thờ trì tụng Chú Đại Bi

Cách thức ngồi, lạy :

Mỗi người nên có một tọa cụ, hoặc đơn giản hơn, một miếng vải sạch hay khăn bông xếp lại để làm chỗ tọa thiền. Hành giả nên ngồi theo cách thức kiết già nhưng nếu gặp khó khăn thì có thể ngồi theo cách thức bán già (ngồi xếp bằng, chân phải gác lên chân trái hay ngược lại), lòng bàn tay để ngữa hướng lên trên, bàn tay mặt để lên trên bàn tay trái, hai đầu ngón cái đụng vào nhau. Mắt nên mở hé, nếu nhắm hẵn thì dễ rơi vào trạng thái hôn trầm, nếu mở lớn thì khó định tâm.

Lạy là nghi thức biểu lộ sự cung kính, tôn trọng. Mỗi thời đại có một cung cách khác nhau để biểu lộ sự tôn trọng. Lối lạy kiểu cũ theo cách thức của người Trung Hoa có nhiều điểm rất bất tiện, không thích hợp cho không khí thiền đường. Trước hết, với kiểu lạy này, khi hành lễ mỗi người chiếm một khoảng diện tích đáng kể đủ để có thể đứng và qùy xuống lạy, gây trở ngại cho những thiền đường nhỏ. Việc đứng lên qùy xuống gây ra những tiếng động của động tác, tiếng sột soạt của quần áo, những động tác này cũng có thể làm phóng ra những bụi bặm, vi trùng mà ta mang trên quần áo, những mùi hôi của cơ thể – nhất là trong những xứ khí hậu nóng nực-, làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường ta cần có để thở. Chưa kể là việc đứng lên qùy xuống lộn xộn trong những tư thế rất khó coi… Cho nên, chúng ta có thể thực hành một cách lạy tương đối đơn giản trong khi hành lễ, là thiền sinh cứ ngồi theo tư thế hành thiền, kiết già hay bán già, khi lạy chỉ cúi gập đầu xuống sàn phía trước, kéo dài tư thế này một khoảng thời gian ngắn đủ để niệm một câu “Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm BồTát”, xong ngồi dậy.

Cách thức tụng đọc chú đại bi :

Chú Đại Bi phải nên được trì tụng lớn tiếng, giọng điệu trầm hùng, nhanh và liên tục bằng cách lấy hơi từ bụng ra. Lớn tiếng ở đây không có nghĩa là ta phải la lớn lên, nhưng giọng đọc phải rõ ràng, nghe đủ tiếng, không lờ mờ, trại giọng.

Kinh “Nghiệp Báo Sai Biệt” cho biết việc niệm Phật, tụng kinh, trì chú lớn tiếng có mười công đức sau đây :

  • Dẹp được sự buồn ngủ ám ảnh
  • Thiên ma hoảng sợ.
  • Tiếng vang khắp mười phương
  • Ba đường hết khổ
  • Tiếng đời chẳng lọt vào tai
  • Lòng không tán loạn
  • Dõng mãnh tinh tấn
  • Chư Phật vui mừng
  • Tam muội hiện ra trước mắt
  • Vãng sanh Tịnh Độ

Thật sự, ta cũng sẽ không lo ngại cơn buồn ngủ ám ảnh. Bởi vì khi trì tụng chú Đại Bi, các vị Thiên, Long, Hộ Pháp sẽ luôn ở bên cạnh ta, khi ta rơi vào cơn buồn ngủ, các Ngài sẽ giúp đánh thức ta -mà rồi qúy vị sẽ chứng nghiệm khi thực hành trì chú một cách nghiêm túc- bằng một âm thanh như tiếng sấm nổ ở trong đầu khiến ta hoảng hồn, giật mình tỉnh thức. Thông thường sau đó ta sẽ không còn (hoặc không dám) buồn ngủ nữa. Tuy nhiên, nếu việc này xảy ra một lần thứ hai trong buổi hành Thiền, điều này có nghĩa là thể xác ta quá mỏi mệt, ta nên xin phép được xả thiền để nghỉ ngơi.

Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt phải tụng thầm chỉ riêng cho mình nghe, hoặc chỉ nhép môi không ra tiếng như khi chúng ta đang làm việc, đi chung xe tàu với người khác, hoặc đi nằm trước khi ngủ.

TOP 10 Địa điểm Hấp dẫn rong chơi Miền Bắc – Kỳ 1

Kỳ nghỉ hè năm nay là dịp lý tưởng để bạn và gia đình được nghỉ ngơi thư giãn sau những ngày lao động miệt mài. Nếu bạn ở phía Bắc, hãy đừng bỏ qua 10 địa điểm thú vị để rong chơi thỏa thích sau nhé!

1. LẮNG NGHE TIẾNG SÓNG Ở ĐẢO CÔ TÔ – VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH

Đường đến Cô Tô

Đường đến Cô Tô – Ảnh: Khoi Tran Duc

Điểm đến đầu tiên cho kỳ nghỉ lễ 30/4, 1/5 Mytour.vn muốn giới thiệu đến cho bạn chính là đảo Cô Tô.  Cô Tô là một quần đảo có vẻ đẹp hoang sơ và thơ mộng nhất miền Bắc. Ngoài tiên gọi Cô Tô thì quần đảo  này còn có tên gọi khác là quần đảo Chàng Sơn vì quần đảo thơ mộng này nằm trên ngọn núi Chàng.

Biển chiều Cô Tô

Biển chiều Cô Tô – Ảnh: Luuvanthai

Cô Tô thuộc huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh. Để đến được quần đảo Cô Tô thì bạn phải vượt qua chặng đường khá vất vả vì quần đảo này nằm rất xa đất liền, có thể nói là xa nhất trong tất cả các đảo ở miền Bắc. Nhưng, thiên nhiên và phong cảnh trên đường đi đẹp ngỡ ngàng sẽ là món quà tuyệt vời nhất đền đáp cho những gian nan của cuộc hành trình.

Nước biển trong xanh thăm thẳm đến tận đáy

Thiên thiên hoang sơ nhưng thơ mộng – Ảnh: Trungjones

Đường đến Cô Tô bạn sẽ phải băng qua huyện đảo Vân Đồn và đảo Quan Lạn là một trong những nơi hoang sơ nhất miền Bắc nước ta. Nước biển trong xanh thăm thẳm đến tận đáy, hai đường là những rặng núi sừng sững bao bọc, ôm ấp lấy biển như che chở cho biển cả khỏi những sóng gió bão tố khiến cho tâm hồn người ngắm cũng cảm thấy ấm áp chứ không choáng ngợp, sợ hãi.

Nước biển trong xanh thăm thẳm đến tận đáy

Nước biển trong xanh thăm thẳm đến tận đáy – Ảnh: Mytour.vn

Một góc Cô Tô

Một góc Cô Tô – Ảnh: Lâm Lê

Cô Tô là một quần đảo còn hoang sơ và ít có sự tác động của con người, công nghiệp nên những gì ở nơi đây sẽ khiến cho bạn cảm thấy thân thuộc và dễ chịu bởi sự nguyên sơ thật thà của nó. Bãi cát dài miên man, điểm tô là những rặng phi lao chắn sóng đêm ngày đung đưa theo tiếng vỗ về của gió biển, sóng biển thầm thì như hát ca ru ngủ. Tất cả mang đến cho bạn cảm giác bình yên khó diễn tả bằng lời. Hãy đến Cô Tô và thật sự cảm nhận nhé!

Bãi Dài của đảo Vân Đồn

Bãi Dài của đảo Vân Đồn – Ảnh: Khoi Tran Duc

2. NGHỈ DƯỠNG Ở KHU DU LỊCH SINH THÁI ĐỒNG MÔ – BA VÌ, HÀ NỘI

Tiếp theo, nếu bạn ở Hà Nội, Mytour.vn sẽ mách nhỏ cho bạn một địa chỉ để gia đình bạn có thể vui chơi, thư giãn mà lại không quá xa nội thành Hà Nội đó chính là khu du lịch sinh thái Đồng Mô ở huyện Ba Vì, Hà Nội.

Không gian xanh mát của khu du lịch sinh thái Đồng Mô

Không gian xanh mát của khu du lịch sinh thái Đồng Mô – Ảnh: Sưu tầm

Cách nội thành Hà Nội chỉ gần 40 km về phía Tây, khu du lịch sinh thái Đồng Mô thuộc quần thể du lịch Sơn Tây – Ba Vì. Từ Hà Nội đi theo đường cao tốc Láng Hòa Lạc đến ngã tư Hòa Lạc thì rẽ phải khoảng 10 km là đến Đồng Mô. Đây là một địa điểm lý tưởng cho việc thư giãn và vui chơi của gia đình đặc biệt là các gia đình có trẻ em bởi nơi đây hội tụ đủ các yếu tố: Nghỉ dưỡng – Vui chơi – Giải trí – Thiên nhiên trong lành, mát mẻ – Ẩm thực cuốn hút.

Hoàng hôn ở Đồng Mô

Sân Golf Đồng Mô – Ảnh: Mytour.vn

Khu du lịch sinh thái Đồng Mô có không gian xanh mát tươi đẹp với diện tích gần 1.200 ha diện tích mặt hồ và 21 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó nổi bật là hòn đảo Phượng được khai thác du lịch và đầu tư lớn. Ở Đông Mô bạn có thể trải nghiệm các hoạt động thú vị và thăm quan các địa điểm sau:

Hoàng hôn ở Đồng Mô

Hoàng hôn ở Đồng Mô – Ảnh: Lensfix

Từ khu du lịch Sinh thái Đồng Mô, bạn có thể dễ dàng ghé thăm những địa danh như: vườn quốc gia Ba Vì, đền Mía, đền thờ Bác Hồ, thành cổ Sơn Tây, Khoang Xanh Suối Tiên cũng ở gần đó… Sau đó thưởng thức các đặc sản ở khu vực này cũng như trải nghiệm các dịch vụ xông hơi, massage…

Dịch vụ trượt cỏ thu hút nhiều bạn trẻ tham gia

Thiên nhiên ở hồ Đồng Mô – Ảnh: Khôi Trần Đức

Tham quan khu đảo Phượng với những rừng cây xanh tươi bát ngát và ở đây rất thích hợp cho các hoạt động vui chơi của trẻ nhỏ. Trong khi trẻ em vui đùa thì các ông bồ có thể câu cá, bắt gà, đào măng để chuẩn bị cho bữa ăn…

Dịch vụ trượt cỏ thu hút nhiều bạn trẻ tham gia

Dịch vụ trượt cỏ thu hút nhiều bạn trẻ tham gia – Ảnh: Internet

Các địa điểm tham quan gần với Đồng Mô như: Làng cổ Đường Lâm, sân golf quốc tế Đồng Mô, làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (tại đây nếu bạn mang thức ăn, dụng cụ vào khu du lịch thì sẽ bị tính phí 50.000đ/người/ngày. Ở đây cũng có rất nhiều dịch vụ vui chơi giải trí, xe đạp đôi, bè nổi, du thuyền tham quan hồ, thuê võng, thuê bạt, thuê bếp nướng…)

Khung cảnh lãng mạn nơi đây lúc chiều tà

Khung cảnh lãng mạn nơi đây lúc chiều tà – Ảnh: Nguyễn Ngọc Sơn

Đến với Đồng Mô bạn cũng không cần phải quá lo lắng về vấn đề nhà nghỉ, khách sạn nhất là trong thời điểm dịp lễ đông đúc. Đồng Mô có đầy đủ các khách sạn từ bình dân cho đến cao cấp nên bạn có thể dễ dàng chọn lựa chốn nghỉ chân phù hợp với gia đình mình. Giá mỗi phòng nghỉ ở đây giao động trung bình trong khoảng 600.000 – 700.000 đồng/đêm.

Thiên nhiên trong lành và hoang sơ

Thiên nhiên trong lành và hoang sơ – Ảnh: Sưu tầm

3. KHÍ HẬU MÁT MẺ Ở MỘC CHÂU – SƠN LA

 Mộc Châu là một cao nguyên rộng lớn nằm ở huyện Mộc Châu của tỉnh Sơn La, cách Hà Nội khoảng 180 km về phía Tây Bắc. Khí hậu ở Mộc Châu quanh năm ôn hòa, mát mẻ, phong cảnh hoang sơ, mộc mạc nên là điểm đến hấp dẫn cho những du khách tham quan du lịch.

Bình minh ở Mộc Châu

Bình minh ở Mộc Châu – Ảnh: Lê Thanh Sơn

Những con đường được tắm táp trong nắng sớm

Những con đường được tắm táp trong nắng sớm – Ảnh: Sưu tầm

Mộc Châu hấp dẫn du khách bởi những cánh đồng hoa cải bát ngát mọc đầy hai bên đường đi, những cánh đồng chè xanh mướt mát trải dài cả triền đồi, những nông trại nuôi bò sữa rộng lớn cung cấp sữa cho khắp cả nước và những cánh rừng hoa ban hoa mận trắng muốt mỗi độ xuân về.

Có thể nói những nương chè xanh mát là đặc sản của Mộc Châu

Những đồi chè bát ngát đến tận chân trời – Ảnh:Anh Nguyen

Xem thêm: Các khách sạn giá ưu đãi tại Mộc Châu

Thấp thoáng trong những đồi chè là những ngôi nhà nhỏ xinh nằm nép mình e ấp giữa một thảo nguyên bao la bát ngát. Cảnh vật tạo  nên một bức tranh phong cảnh từ các chi tiết đối lập nhau nhưng tạo nên một sức hút mạnh mẽ. Giữa bức tranh yên bình đó, những người nông dân hái chè điểm xuyết cho bức tranh càng thêm sinh động.

Có thể nói những nương chè xanh mát là đặc sản của Mộc Châu

Có thể nói những nương chè xanh mát là đặc sản của Mộc Châu – Ảnh: Le Thanh Son

Nắng sớm

Nắng sớm – Ảnh: Nhimchuc

Sau khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đồi chè bát ngát bao la xanh mướt mát như xóa tan cái oi bức của mùa hè, những cánh rừng hoa thơ mộng thì bạn có thể tiếp tục cuộc hành trình với những địa danh nổi tiếng khác ở Sơn La như rừng thông bản Áng, thác Dải Yếm, hang Dơi, đèo Pha Luông – địa danh dành cho những du khách yêu thích sự mạo hiểm…

Trẻ em như búp trên cành

Trẻ em như búp trên cành – Ảnh: Cao Anh Tuan

Rừng thông Bản Áng long lanh đáy nước in trời

Rừng thông Bản Áng long lanh đáy nước in trời – Ảnh: Cao Anh Tuấn

Trong tiết trời tháng 4 oi ả thế này mà được đắm mình trong không gian xanh mát và thơ mộng của Mộc Châu, quên đi những muộn phiền lo âu thường nhật để tận hưởng trọn vẹn kỳ nghỉ lễ cùng gia đình thì còn gì tuyệt vời hơn nữa.

4. THUNG NAI, HÒA BÌNH – NƠI ĐƯỢC MỆNH DANH LÀ “VỊNH HẠ LONG TRÊN CẠN”

Nếu bạn yêu thích không gian thơ mộng, lãng mạn và yêu thiên nhiên thì vẻ đẹp kỳ ảo của Thung Nai sẽ hoàn toàn chinh phục bạn. Thung Nai là một địa danh du lịch nổi tiếng của Hòa Bình.

Hoàng hôn ở  Thung Nai

Hoàng hôn ở  Thung Nai – Ảnh: Nhimphich

Chỉ cách thành phố Hòa Bình khoảng 80 km và cách sông Đà 20 km, Thung Nai có vẻ đẹp mê hoặc, thiên nhiên ban tặng cho nơi đây một vẻ đẹp vừa hư vừa thực, khiến cho những ai lạc vào nơi đây đều đắm chìm trong không gian hoang sơ nhưng vô cùng kỳ ảo.

Vịnh Hạ Long trên cạn

Thung Nai được mệnh danh là “Vịnh Hạ Long trên cạn” – Ảnh: Quang Vu

Xem thêm: Các khách sạn giá ưu đãi tại Hòa Bình

Thung Nai được mện danh là “vịnh Hạ Long trên cạn” vì tạo hóa đã ưu ái cho thiên nhiên nơi đây một vẻ đẹp hùng tráng nhưng không kém phần thơ mộng. Nếu bạn chọn địa danh thú vị này để nghỉ dưỡng trong kỳ nghỉ dài 30/4, 1/5  này của mình và người thân thì nên dành 2 ngày để tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp của Thung Nai nhé!

Bình minh trên thung lũng Mai Châu

Một góc bình yên ở Thung Nai – Ảnh: Anh Nguyen

5. KHÁM PHÁ NÉT BÌNH YÊN Ở MAI CHÂU – BẢN LÁC Ở HÒA BÌNH

Nếu bạn muốn tìm về một chốn bình yên, tránh xa những ồn ào náo nhiệt của chốn đô thị và xua tan đi những mệt mỏi trong cuộc sống thường nhật để tâm hồn được thư thái thì Mai Châu – Bản Lác ở Hòa Bình là một lựa chọn thú vị.

Bình minh trên thung lũng Mai Châu

Mai Châu trong nắng sớm – Ảnh: xomnhiepanh.com

Mai Châu là một thung lũng thơ mộng nằm ngay dưới chân đèo Thung Khe thuộc địa phận của tỉnh Hòa Bình.  Thời tiết ở Mai Châu gần giống với thời tiết ở Đà Lạt, mát mẻ quanh năm và không khí trong lành thoáng đãng. Vào những buổi sáng sớm mùa hè, đứng trên đỉnh núi bạn có thể chiêm ngưỡng bình  minh đẹp rực rỡ vô cùng, những giọt sương mai còn đọng lại trên lá khi được ánh nắng mai chiếu vào khiến cho không gian trở nên lung linh huyền ảo.

Bình minh trên thung lũng Mai Châu

Bình minh trên thung lũng Mai Châu – Ảnh: Hiếu Trần

Xem thêm: Các khách sạn giá ưu đãi tại Hòa Bình

Mai Châu quyến dũ du khách từ những gì đơn giản và mộc mạc nhất. Đó là những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, những nếp nhà tranh cô liêu trong ráng khói chiều. Nhìn từ xa, cả thung lũng như được dệt nên bởi một màu xanh mướt. Những cánh đồng lúa thẳng cánh cò bay, điểm xuyết nên nền xanh của thảm lúa là một vài chú cò trắng đang nhởn nhơ, mỗi khi có tiếng động là lại tan tác bay đi. Thấp thoáng xa xa là bóng dáng những người dân đang nhặt cỏ. Không gian quá mộc mạc mà yên bình quá đỗi.

Những thửa ruộng lúa như những bức tranh đa màu sắc

Những thửa ruộng lúa như những bức tranh đa màu sắc – Ảnh: dangtu16

Không chỉ có thiên nhiên là điểm nhấn thu hút lữ khách mà con người với những bản sắc văn hóa ở Mai Châu cũng hấp dẫn du khách tìm hiểu. Nơi đây là nơi sinh sống của người dân tộc Thái, họ quây quần xung quanh một bản làng ở thung lũng Mai Châu gọi là bản Lác. Con người nơi đây thật thà và đôn hậu vô cùng. Nếp sống của họ cũng giản dị và bình yên khác xa với những thị trấn du lịch miền núi khác, nơi đây họ vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa đặc trưng của người dân tộc vùng cao mà không bị ảnh hưởng bởi sự giao thoa văn hóa mới.

Bản Lác bình yên trong nắng sớm

Bản Lác bình yên trong nắng sớm – Ảnh: xomnhiepanh.com

Ngoài thiên nhiên và con người thì ẩm thực nơi đây cũng là một điều thu hút du khách và khiến cho du khách có ấn tượng sâu đậm với bản làng miền núi này. Khi đến với Mai Châu bạn hãy đừng bỏ qua những đặc sản như cơm lam, rượu cần, thịt trâu gác bếp, xôi nếp nương thơm dẻo, thịt lợn mán, thịt xiên nướng than hoa…

Cuộc sống bình yên của người dân bản Lác

Cuộc sống bình yên của người dân bản Lác – Ảnh: Cuongle

Source: Mytour.vn, Internet.

Lọ Lem – Mytour.vn

Chia sẻ: Sự thất bại, tính hữu hạn, sự thành đạt và hạnh phúc.

Tiến sỹ Trần Vinh Dự – Chủ tịch Trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ (VATC) và Chủ tịch Trung tâm Quốc tế của Đại học Broward College (Mỹ) tại Việt Nam. Trong bài diễn văn của mình nói với sinh viên ngày ra trường 2014, TS Trần Vinh Dự đưa ra 3 điều: Sự thất bại, sự hữu hạn của cuộc đời, sự thành đạt và hạnh phúc.

responsible-for-my-own-happiness

Chúng tôi xin phép đăng tải nguyên văn bài diễn văn “kinh điển” gây chấn động này của TS Trần Vinh Dự: Bài diễn văn có chiều sâu, đúc kết những trải nghiệm trên con đường Học tập và lập nghiệp. Xin chia sẻ cùng các bạn:

Tôi rất hân hạnh được có mặt trong buổi lễ tốt nghiệp ngày hôm nay của các bạn, những cựu sinh viên yêu quý của trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ.

Trong ngày vui này, tôi muốn chia sẻ với các bạn 3 điều với tư cách là một người bạn. Chỉ có 3 điều thôi, không có gì là lớn lao.

Điều thứ nhất là về sự thất bại 

Tôi tự cho mình là một người dám chấp nhận thất bại. Thất bại đầu đời của tôi là trong năm đầu Đại học. Tôi vào học Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 1995 và đặt mục tiêu phải lấy được học bổng để đi Úc học ngay trong năm đầu tiên.

Để làm được việc đó, tôi phải đứng đầu trường về thành tích học tập. Kết quả học tập của tôi năm đó đứng đầu trường.

Nhưng đáng tiếc là chương trình học bổng của Úc mà tôi nhắm tới năm đó kết thúc. Giấc mơ không thành, tôi đã khóc nhiều ngày, nhưng tôi không bỏ cuộc.

Khi tốt nghiệp Đại học, tôi cũng tốt nghiệp đứng đầu khoá. Tôi được trường Đại học Quốc Gia Hà Nội giữ lại làm giảng viên. Thế nhưng mức lương khi đó chỉ có 400 nghìn đồng mỗi tháng, đủ cho tôi uống café và ăn sáng vài ngày.

Tôi nộp hồ sơ xin việc ở nhiều nơi, và trong suốt 6 tháng trời, tôi chỉ nhận được hết cái lắc đầu này tới cái lắc đầu khác. Lại một thất bại nữa.

Sự thất bại trong việc tìm việc làm tốt và lương cao khiến tôi nhận ra tôi cần phải làm tốt hơn nữa. Tôi đã dành một năm tự học và xin học bổng.

Thời kỳ này áp lực lớn tới mức tóc trên đầu tôi rụng từng mảng. Tôi cao 1m74, và khi đó tôi chỉ nặng hơn 50 kg đôi chút.

Nhưng nỗ lực của tôi cuối cùng không uổng. Tôi được nhận học bổng của viện Harvard Yenching tại trường Đại học Harvard và được nhận vào học tại Đại học Tổng hợp Texas tại Austin. Năm 24 tuổi, tôi bắt đầu qua Mỹ học tiến sĩ Kinh tế.

Gần 6 năm học tiến sĩ là một thời kỳ gian khổ, đặc biệt là trong giai đoạn làm luận án.

Các thất bại liên tiếp trong nghiên cứu và áp lực phải thành công để tốt nghiệp là đặc biệt nghiêm trọng.

Nếu thời gian kéo dài quá lâu, học bổng của tôi sẽ hết, và tôi sẽ phải bỏ cuộc và về Việt Nam với hai bàn tay trắng. Vì thế nhiều lúc quẫn trí tôi đã tính đến việc tự sát.

Thế nhưng cuối cùng tôi vẫn vượt qua được. Khi tôi tốt nghiệp đầu năm 2007, tôi là một trong 3 nghiên cứu sinh được đánh giá cao nhất trong số khoảng gần 20 tiến sĩ Kinh tế tốt nghiệp năm đó của trường.

Ngay từ trước khi ra trường, tôi đã có việc làm tại Mỹ với mức lương khởi đầu 6 con số, tức là hơn 100 nghìn USD/năm.

Năm 2010, tôi về Việt Nam và bắt đầu làm việc cho một Quỹ đầu tư lớn nhất nhì Việt Nam trên cương vị cố vấn kinh tế cao cấp. Nhiều người ngăn cản quyết định này. Nhiều người cho tôi là ngu ngốc.

Và quả thật, tôi bị sa thải chỉ sau 3 tuần làm việc ở tập đoàn này. Lý do, các lãnh đạo của họ sợ những gì tôi nói và viết có thể ảnh hưởng đến tương lai chính trị của tập đoàn. Lại một thất bại nữa. Lần này nặng hơn vì tôi đã 33 tuổi.

Nhưng chính nhờ thất bại này, sự nghiệp của tôi rẽ sang một lối đi mới. Tôi tham gia cùng các bạn bè thân hữu của mình xây dựng công ty tài chính TNK Capital, giờ là một công ty tư vấn tài chính uy tín ở Việt Nam.

Từ công ty này, chúng tôi lập ra Ismart Education, một công ty tiên phong ở Việt Nam trong lĩnh vực giải pháp giáo dục số, và đầu tư vào Học viện Giáo dục Hoa Kỳ, là công ty sở hữu trường Cao đẳng Nghề Việt Mỹ.

Đó cũng là lý do mà tôi đứng trước các bạn ngày hôm nay với tư cách Chủ tịch của trường.

Những thất bại mà tôi gặp phải trong 20 năm qua có thể chưa phải là những thất bại lớn. Tôi có thể sẽ còn gặp thêm nhiều thất bại nữa trong những năm tới. Nhưng mỗi khi thất bại, tôi lại thấy mình trưởng thành hơn và quyết tâm hơn.

Ngày hôm nay các bạn ra trường, cũng giống như tôi ra trường hồi 15 năm trước. Dù học giỏi tới đâu, hành trang lập nghiệp của các bạn cũng giống như tôi ngày đó, vẫn còn nghèo nàn lắm.

Các bạn chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách, và sẽ có nhiều thất bại. Có những thất bại sẽ làm các bạn bật khóc. Có những thất bại sẽ làm các bạn không thể khóc thành lời.

Có những thất bại sẽ làm các bạn mất niềm tin và gục ngã. Có những thất bại thậm chí làm các bạn đau đến mức ước như mình chưa bao giờ được sinh ra.

Trong những giờ phút ấy, hãy nhớ rằng ai cũng sẽ phải trải qua những thử thách tương tự.

Cái gì không giết chết được chúng ta thì sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn. Tôi mong điều ấy ở các bạn. Và đó là chia sẻ đầu tiên.

My-happiness-quote

Điều thứ hai là về sự hữu hạn của cuộc đời

Khi tôi còn ở những năm đầu của tuổi 20, tôi không bao giờ nghĩ đến một ngày nào đó mình trở nên già đi. Với tôi khi đó chỉ có tuổi trẻ.

Thế nhưng đứng trước các bạn ngày hôm nay ở đây, tôi nhận ra 15 năm đã trôi qua như một giấc mơ. Chỉ 3 năm nữa tôi sẽ bước vào tuổi 40. Thêm một giấc mơ 15 năm nữa giống như giấc mơ vừa qua và tôi sẽ ngoài 50 tuổi.

Điều đó cũng sẽ đến với các bạn. Rất nhanh thôi, 10 năm, 20 năm, rồi 30 năm sẽ trôi qua và một sáng thức dậy các bạn sẽ thấy tóc trên đầu mình có nhiều sợi bạc.

Điều đó không có gì là đáng buồn. Ngược lại, nó là một động lực lớn nếu các bạn biết tận dụng.

Hiểu rằng mình sẽ già đi và biến mất khỏi trái đất này như là một lẽ tự nhiên cũng có nghĩa rằng bạn sẽ biết yêu quý từng ngày còn lại và biết dùng nó một cách có ích nhất.

Thế nào là có ích? Tôi không có ý nói đến việc bạn phải có những đóng góp lớn lao cho xã hội hoặc những hi sinh phi thường. Cái có ích mà tôi nói đến ở đây là các bạn chỉ sống có một lần cuộc sống này, vì thế hãy làm những gì các bạn thực sự yêu thích nhất.

Tôi muốn mượn lời Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp năm 2005 của Đại học Stanford. Jobs nói rằng: “Thời gian của các bạn là hữu hạn, vì thế đừng phí phạm thời gian để sống cuộc đời của người khác.

Đừng bị sập bẫy các giáo điều để phải sống cuộc sống của mình theo cách nghĩ của người khác. Đừng để tiếng nói quan điểm của người khác nhấn chìm tiếng nói sâu thẳm trong lòng bạn.

Và điều quan trọng nhất là hãy có can đảm để đi theo tiếng gọi của trái tim và trực giác của bạn. Chúng là thứ biết rõ rất bạn thực sự muốn trở thành một người như thế nào. Những thứ khác đều là thứ yếu.”

Khi các bạn thực sự làm việc gì mà các bạn yêu thích nhất, các bạn sẽ dễ vượt qua những thử thách hơn.

Công việc chiếm một phần lớn cuộc đời của các bạn, vì thế, các bạn sẽ chỉ cảm thấy thực sự mãn nguyện khi được làm việc mà các bạn cho là thích hợp nhất với mình.

Tôi là một người ham viết lách từ nhỏ. Ngay khi còn là học sinh phổ thông cơ sở, tôi đã viết tiểu thuyết và làm thơ.

Tiểu thuyết của tôi chưa bao giờ được đăng, và thơ của tôi cũng vậy. Có lẽ tiểu thuyết của tôi quá dở và thơ của tôi cũng cộc cằn.

Tôi không làm thơ và viết văn nữa, nhưng niềm yêu thích viết lách thì ngày một lớn. Cuối cùng, tôi trở thành một nhà phân tích và bình luận về kinh tế và quan hệ quốc tế.

Trong mười năm nay, tôi đã có gần 1 nghìn bài viết đăng tải trên nhiều báo và tạp chí trong và ngoài nước. Đó là sở thích của tôi. Nó làm tôi cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa.

Nếu như nhiều tuần qua đi không thể viết những gì mình muốn viết, tôi cảm thấy thiếu hụt như thiếu hụt ôxy để thở, và tôi phải quay lại viết bằng được.

Trong số các bạn ngồi đây ngày hôm nay, hẳn sẽ có một số bạn đã thực sự biết mình muốn làm gì. Các bạn thật may mắn. Với phần lớn các bạn khác, có lẽ các bạn vẫn còn chưa biết mình muốn làm gì. Các bạn hãy tiếp tục tìm kiếm.

Cũng giống như tất cả các vấn đề thuộc về trái tim, các bạn sẽ biết mình tìm ra nó khi gặp nó. Các bạn không được dừng lại trước khi tìm ra. Và khi đã tìm ra công việc mà mình thực sự ưa thích, các bạn hãy theo đuổi nó bằng toàn bộ năng lượng của mình.

Vì thời gian của các bạn trên đời này chỉ là hữu hạn, các bạn sẽ già đi, và chắc chắn các bạn không muốn trở thành một người già chìm đắm trong hối tiếc về quá khứ bị bỏ lỡ.

Điều thứ ba là sự thành đạt và hạnh phúc

Không phải ai sinh ra cũng là thiên tài, cũng có cơ hội để trở thành một thiên tài. Không phải ai sinh ra cũng trong một gia đình giàu có, hoặc có cơ hội để trở thành giàu có.

Tôi không phải là một thiên tài, và cho đến giờ tôi cũng chưa bao giờ là một người thực sự giàu có.

Có thể trong số các bạn tốt nghiệp ngày hôm nay sẽ có một số ít bạn trở thành những người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có về sau, nhưng chắc chắn phần lớn trong số các bạn sẽ là những người có cuộc sống bình thường.

May mắn là không cần phải là một thiên tài hoặc một người đặc biệt giàu có thì mới có hạnh phúc. Thậm chí trong nhiều trường hợp điều này còn ngược lại, có nghĩa là người đặc biệt nổi tiếng hoặc giàu có nhiều khi không có hạnh phúc.

Lý do là, hạnh phúc là cảm nhận chủ quan của bạn đối với những gì bạn làm, những gì bạn có, và những gì xung quanh bạn.

Hạnh phúc không phải là một khái niệm vật lý với những công thức khô cứng. Nó là thứ thuộc về con người, và vì thế, nó có có vẻ đẹp và sự bí ẩn mà chỉ có chính bạn mới giải mã cho mình được. Nếu biết cách giải mã, hạnh phúc đến từ những điều nhỏ nhặt nhất.

Trong bước đường sắp tới, các bạn sẽ phải luôn bám đuổi trong một cuộc cạnh tranh gay gắt về danh lợi. Nhưng hãy đừng để nó cuốn các bạn đi vĩnh viễn. Hãy biết dừng lại, dành thời gian để cảm nhận và tự vui với những gì mình có.

Và lý do để tôi chia sẻ điều này là vì hôm nay là ngày của các bạn.

Các bạn đã đặt thêm được một dấu mốc hết sức quan trọng trong cuộc đời mình. Những khó khăn cực nhọc trên ghế nhà trường đã qua, những khó khăn cực nhọc trên con đường mưu sinh và khẳng định bản thân đang đến.

Nhưng ngay lúc này, chính lúc này đây, các bạn có quyền dừng lại trong một ngày;

Có quyền tự hào vì những gì mình đã làm được, có quyền vui chơi với các bạn đồng khoá và thầy cô thêm một ngày nữa như những sinh viên còn đang học, có quyền tổ chức tiệc tùng để ăn mừng thành tựu của mình.

Không có ai sống thay cuộc sống của các bạn, và các bạn cũng không cần phải sống thay cuộc sống của ai. Vì thế, không ai có quyền đánh giá hay nghi ngờ những nỗ lực mà các bạn phải trải qua để đến được với thời khắc này.

Chúng tôi, những người đàn anh, đàn chị, những người đã đi trước, vui mừng và nghiêng mình trước các bạn. Chúc tất cả các bạn thành công và hạnh phúc.

Tiến sĩ Trần Vinh Dự (SN 1977) hiện là Tổng Giám Đốc của công ty tài chính TNK Capital và cổ đông sáng lập của tập đoàn giáo dục ISmart Education tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông tốt nghiệp cử nhân kinh tế (1999) và làm giảng viên trường ĐH Kinh tế, thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội (1999-2001).

Ông từng tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế (2003) và tiến sĩ kinh tế (2007) tại Đại học Texas tại Austin (University of Texas at Austin).

Quá trình học và nghiên cứu của ông tại đây được tài trợ toàn bộ bởi quỹ học bổng Harvard Yenching, thuộc Đại học Harvard.

Ông từng là chuyên gia kinh tế của tập đoàn ERS Group (Washington DC và San Francisco, Hoa Kỳ) (2007-2010) và là cố vấn kinh tế cao cấp của tập đoàn Vina Capital (Tp. Hồ Chí Minh) (2010).

Lời chúc ngày Tết

chúc Tết viết bằng nhiều tiếng nước ngoài

Chúc Mừng Năm Mới (Vietnamese) –

Happy New Year (English) –

Feliz Año Nuevo (Spanish) –

Ano Novo Feliz (Portuguese) –

Nuovo Anno Felice (Italian) –

Glückliches Neues Jahr (German) –

Nouvelle Année Heureuse (French) –

Gelukkig Nieuw Jaar (Duth) –

Καλή χρονιά (Greek) –

Chúc Tết Ất Mùi 2015 – Hay

Hình ảnh những lời chúc mừng năm mới Tết Ất Mùi 2015 hay mới độc và lạ nhất

1. Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Phúc lộc đưa nhau đến từng nhà. Vài lời cung chúc tân niên mới. Vạn sự an khang vạn sự lành.

2. Vạn sự như ý, tỉ sự như mơ, triệu triệu bất ngờ, không chờ cũng đến.

3. Hoa đào nở, chim én về, mùa xuân lại đến. Chúc một năm mới: nghìn sự như ý, vạn sự như mơ, triệu sự bất ngờ, tỷ lần hạnh phúc.

4. Chúc mừng năm mới Ất Mùi 2015. Chúc năm mới sức khỏe dẻo dai, công việc thuận lợi thăng tiến dài dài, phi những nước đại tiến tới thành công.

5. Chúc bạn 12 tháng phú quý, 365 ngày phát tài, 8760 giờ sung túc, 525600 phút thành công 31536000 giây vạn sự như ý.

6. Chúc mừng năm mới. Chúc 365 ngày hạnh phúc, 52 tuần như ý, 12 tháng an vui, 8.760 giờ thoải mái, 52.600 phút may mắn và một năm mới an khang thịnh vượng – phát tài phát lộc.

7. Năm hết tết đến kính chúc mọi người thật nhiều sức khoẻ, miệng cười vui vẻ, tiền vào mạnh mẽ, cái gì cũng được suôn sẻ, để sống tiếp một cuộc đời thật là đẹp đẽ.

8.Năm Ất Mùi 2015 – Chúc bạn luôn: Đong cho đầy hạnh phúc – Gói cho trọn lộc tài – Giữ cho mãi an khang – Thắt cho chặt phú quý.

9. Chúc mọi người vui vẻ như Chim Sẻ, khỏe mạnh như Đại Bàng, giàu sang như chim Phụng, làm lụng như chim Sâu, sống lâu như Đà Điểu.

10. Cung chúc tân niên một chữ nhàn. Chúc mừng gia quyến đặng bình an. Tân niên đem lại niềm hạnh phúc. Xuân đến rồi hưởng trọn niềm vui.

11. Cung chúc tân niên, Sức khỏe vô biên, Thành công liên miên, Hạnh phúc triền miên, Túi luôn đầy tiền, Sung sướng như tiên. Chúc mừng năm mới!

12. Cung chúc tân xuân phước vĩnh cửu – Chúc trong gia quyến được an khương – Tân niên lai đáo đa phú quý – Xuân đến an khương vạn thọ tường.

13.Kính chúc mọi người một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc: Vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng và trưởng thành mọi lĩnh vực.

14. Năm mới chúc nhau sức khỏe nhiều. Bạc tiền rủng rỉnh thoải mái tiêu. Gia đình hạnh phúc bè bạn quý. Thanh thản vui chơi mọi buổi chiều.

Chúc Tết Ất Mùi 2015 – Độc

Hình ảnh những lời chúc mừng năm mới Tết Ất Mùi 2015 hay mới độc và lạ nhất

15. Cung kính mời nhau chén rượu nồng. Chúc mừng năm đến, tiễn năm xong. Tân niên phúc lộc khơi vừa dạ. Xuân mới tài danh khởi thỏa lòng. Vạn chuyện lo toan thay đổi hết. Sự gì bế tắc thảy hanh thông. Như anh, như chị, bằng bè bạn. Ý nguyện, duyên lành, đẹp ước mong.

16. Mùa xuân xin chúc – Khúc ca an bình – Năm mới phát tài – Vạn sự như ý – Già trẻ lớn bé – Đầy ắp tiếng cười – Trên mặt ngời ngời – Tràn đầy hạnh phúc – Xuân đến hy vọng – Ấm no mọi nhà – Kính chúc ông bà – Sống lâu trăm tuổi – Kính chúc ba mẹ – Sức khoẻ dồi dào – Đôi lứa yêu nhau – Càng thêm nồng ấm – Các em bé nhỏ – Học giỏi chăm ngoan – Chúc Tết mọi người – Năm mới hoan hỉ – Gặp nhiều niềm vui.

17. Năm hết Tết đến – Chúc ông chúc bà – Chúc cha chúc mẹ – Chúc cô chúc cậu – Chúc chú chúc dì – Chúc anh chúc chị – Chúc luôn các em – Chúc cả các cháu – Dồi dào sức khoẻ – Có nhiều niềm vui – Tiền xu nặng túi – Tiền giấy đầy bao – Đi ăn được khao – Về nhà người rước – Tiền vô như nước – Tình vào đầy tim – Chăn ấm nệm êm – Sung sướng ban đêm – Hạnh phúc ban ngày – Luôn luôn gặp may – Tràn đầy hạnh phúc.

18. Năm mới Tết đến – Rước hên vào nhà – Quà cáp bao la – Mọi nhà no đủ – Vàng bạc đầy tủ – Gia chủ phát tài – Già trẻ gái trai – Sum vầy hạnh phúc – Cầu tài chúc phúc – Lộc đến quanh năm – An khang thịnh vượng.

19. 1 nụ cười cho lòng thêm ấm áp. 1 ánh mắt cho hạnh phúc tràn đầy. 1 lời nói cho trọn vẹn niềm tin. 1 cái nắm tay cho yêu thương còn mãi. 1 sự chờ đợi cho tình mãi bền lâu. 1 chút hờn ghen cho yêu thương toả sáng. 1 trái tim hồng cho tình yêu thuỷ chung.

20. Đong cho đầy Hạnh phúc. Gói cho trọn Lộc tài. Giữ cho mãi An Khang. Thắt cho chặt Phú quý. Cùng chúc nhau Như ý, Hứng cho tròn An Khang, Chúc năm mới Bình An. Cả nhà đều Sung túc.

21. Mừng 2015 phát tài phát lộc/ Tiền vô xồng xộc, tiền ra từ từ/ Sức khoẻ có dư, công danh tấn tới/ Tình duyên phơi phới, hạnh phúc thăng hoa/ Xin chúc mọi nhà một năm đại thắng.

Chúc Tết Ất Mùi 2015 – Lạ

Bài thơ chúc Tết đan lồng vào nhau

Hình ảnh những lời chúc mừng năm mới Tết Ất Mùi 2015 hay mới độc và lạ nhất

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng

CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong

TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ

XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng

VẠN chuyện lo toan thay đổi hết

SỰ gì bế tắc thảy hanh thông

NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn

Ý nguyện, duyên lành, đẹp ước mong

***

Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ tâm hồn bạn được ngọt ngào.

Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ bạn luôn kiên nhẫn.

Vừa đủ MUỘN PHIỀN để giữ bạn thật sự là Man.

Vừa đủ HY VỌNG để cho bạn được hạnh phúc.

Vừa đủ THẤT BẠI để bạn mãi khiêm nhường.

Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ bạn mãi nhiệt tâm.

Vừa đủ BẠN BÈ để bạn được an ủi.

Vừa đủ VẬT CHẤT để đáp ứng các nhu cầu vật chất của bạn.

Vừa đủ NHIỆT TÌNH để bạn cho đời thêm hân hoan.

Vừa đủ NIỀM TIN để xua tan những thất vọng.

Bài vè chúc Tết

Nghe vẻ nghe ve, nghe vè chúc Tết

30 mùng Một, năm mới cận kề

Bao nỗi bộn bề qua năm là hết

Chờ ăn bánh Tết bao đỏ liền tay

Tài lộc vận may không mong cũng đến

Tình duyên cặp bến hạnh phúc đáo gia

Chúc khắp mọi nhà quanh năm no đủ

Tiền vô đầy tủ, sự nghiệp vinh quang

Vui vẻ họ hàng người người phấn khởi

Học hành tấn tới khởi sự thành công.

361801

[Photo] Bí quyết Chụp ảnh Bokeh đẹp

Mùa Giáng sinh hàng năm thường là thời điểm mà đường phố được trang hoàng đẹp và rực rỡ nhất với các cửa hàng cửa hiệu đều lung linh với ánh đèn, những cây thông cao vút, những ông già tuyết bên cỗ xe tuần lộc… Cách thức để biến hóa những ánh sáng rực rỡ đó thành những đốm lập lòe, lung linh trong bức ảnh của bạn chính là kỹ thuật chụp ảnh Bokeh.

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

Ảnh Bokeh là gì? Xem định nghĩa đầy đủ về Bokeh tại đây.

Theo trang Photographylife, Bokeh (đọc là bô-ke) là thuật ngữ dùng để chỉ chất lượng của những phần mờ nét của một bức ảnh và được tạo ra bởi một ống kính máy ảnh. Nó không dùng để chỉ sự mờ (blur) nói chung hoặc số lượng những vùng mờ ở tiền cảnh hoặc hậu cảnh của ảnh. Những nét mờ nhòe mà bạn thường thấy trong những bức ảnh mà tách chủ thể ra khỏi hậu cảnh là kết quả của việc tạo ra độ sâu trường ảnh (DOF) nông, và thường được gọi là “background blur” tức là kỹ thuật làm mờ hậu cảnh. Còn chất lượng và “cảm giác” về những vệt mờ ở hậu cảnh/tiền cảnh với những điểm phản chiếu của ánh sáng mới là cái mà các nhiếp ảnh gia gọi là Bokeh. Bokeh làm cho chúng ta phải tập trung sự chú ý vào một khu vực cụ thể của hình ảnh. Từ này xuất phát từ tiếng Nhật, có nghĩa đen dịch là “mờ”.

Bokeh nhìn chung gồm 2 thành phần chính là Focus TransitionOut of Focus Highlight. Trong đó, Focus Transition là sự chuyển từ vùng rõ nét sang vùng out nét, mượt (smooth) hay gắt (harsh), đây là phần chính của Bokeh, quyết định xem hình có dịu dàng, mềm mại, mát mắt hay không. Out of focus highlight là những điểm sáng nằm ngoài vùng lấy nét của ảnh, có đặc điểm chính là hình dạng và độ lóe sáng. Hình dạng thường được quyết định do số lượng lá khẩu (Diaphragm Blade) và cách sắp xếp các lá khẩu trong ống kính: tròn, bát giác, lục giác… Còn độ lóe sáng có thể hiểu là kích thước và sắc độ của các điểm sáng nằm ngoài vùng lấy nét của ảnh.

Bokeh được tạo ra bằng cách chụp những ánh đèn có cường độ thấp và nhẹ, như đèn trang trí cây thông hoặc ánh đèn đường từ xa, cộng với việc tăng giảm độ mở ống kính và khoảng cách tới chủ thể để tạo ra những hình dạng phản chiếu khác nhau của ánh đèn, tạo nên hiệu ứng lung linh mờ ảo thu hút mắt người xem.

Nói chung, kỹ thuật tạo Bokeh không quá phức tạp, chỉ cần chịu khó thực hành và một chút kinh nghiệm. Tất cả những gì cần là những ánh đèn, ống kính khẩu độ lớn và đứng thật gần chủ thể.

Hãy nhớ rằng, Bokeh được tạo ra bởi ống kính chứ không phải máy ảnh. Các ống kính khác nhau tạo ra các Bokeh khác nhau do thiết kế quang học khác nhau. Thông thường, các ống kính chụp chân dung và ống tele với khẩu độ tối đa lớn mang lại Bokeh trông dễ chịu hơn so với ống kính zoom thông thường. Ví dụ, ống kính Nikon 85mm f/1.4D cho Bokeh đặc biệt tốt, trong khi ống kính Nikon 18-135mm f/3.5-5.6G DX cho Bokeh xấu hơn ở cùng một độ dài tiêu cự và khẩu độ – tất cả đều do sự khác biệt trong thiết kế quang học của cả hai ống kính. Tất cả các ống kính đều có khả năng tạo ra hiệu ứng mờ nét, nhưng không phải tất cả các ống kính có khả năng dựng hình Bokeh đẹp.

Vậy, một Bokeh đẹp là thế nào? Một bokeh đẹp sẽ cho cảm giác dịu mắt và thỏa mãn về bức ảnh, phần hậu cảnh mờ xuất hiện mềm mại với các vòng tròn ánh sáng mịn và không có cạnh cứng, giữa các khu vực mờ có sự chuyển dịch đẹp và hài hòa.

Một số bí quyết để chụp ảnh Bokeh đẹp

Như trên đã nói, yếu tố tạo Bokeh tốt là ống kính. Trước hết, bạn hãy thử kiểm tra ống kính của mình xem nó chụp được Bokeh như thế nào. Hãy thử lấy nét vào một chủ thể ở khoảng cách thật gần, ở hết mức cho phép của ống kính, nghĩa là khi ở khoảng cách đó thì ống kính vẫn có thể lấy nét được. Chú ý là phía sau đối tượng lấy nét của bạn không có đối tượng nào khác có thể lạc vào ống kính và làm mất tập trung vào đối tượng chính. Bạn cũng cần chụp ở tư thế ngang bằng với chủ thể, không phải là chụp từ trên xuống hay từ dưới lên. Không sử dụng một bức tường có màu trơn đơn giản để làm nền, mà hãy cố gắng tìm một hậu cảnh nhiều màu sắc và có đèn chiếu sáng. Cây thông Noel là hậu cảnh hoàn hảo để bạn kiểm tra khả năng chụp Bokeh của ống kính. Khi đã tìm được chủ thể phù hợp và phông nền phù hợp, hãy thiết lập máy ảnh của bạn ở chế độ “Aperture Priority” (ưu tiên khẩu độ) và đặt khẩu độ ở con số thấp nhất. Trên hầu hết các ống kính zoom tiêu dùng, thông số khẩu độ thấp nhất thường là f/3.5, trong khi ống kính zoom loại Prime và chuyên nghiệp có thể đạt từ f/1.2 – f/2.8. Khi đã thiết lập độ mở ống kính ở giá trị thấp nhất, hãy nhấn nút chụp và xem lại ảnh đã chụp trên màn hình LCD. Trong ảnh thu được thì đối tượng của bạn cần nét trong khi nền hậu cảnh mờ. Nếu bạn có một ống kính tốt, Bokeh sẽ mềm mại và mờ, nhìn đẹp mắt, các tia sáng phản xạ phải tròn và mềm mại, không nhọn sắc.

Máy ảnh tốt nhất để chụp Bokeh là máy ảnh DSLR với ống kính rời, tuy thế nếu máy ảnh compact của bạn có cho phép điều chỉnh bằng tay các thông số chụp và có các chế độ chụp Manual (M), Apeture Priority (Av)… thì bạn cũng thử xem sao.

Sau khi đã thử ống kính, bạn hãy vận dụng các bí quyết sau để chụp ảnh Bokeh:

Mẹo 1: Hãy chọn chế độ M để cho phép bạn tự điều chỉnh hoàn toàn các thông số chụp, hoặc chế độ Av để chọn chế độ ưu tiên khẩu độ.

Mẹo 2: Thiết lập một khẩu độ rộng (có các con số thấp), tối thiểu là F 2.0, còn lý tưởng là từ F 1.2 đến F 1.8.

Mẹo 3: Tắt đèn xung quanh đi và tăng ISO lên cao, đồng thời giảm tốc độ chụp. Tốc độ chụp nên là 1/40 hoặc thậm chí thấp hơn.

Mẹo 4: Đặt một chủ thể trong khoảng 1-2 m ở phía trước những ánh đèn của cây thông để đưa hậu cảnh ra khỏi vùng lấy nét.

Mẹo 5: Khoảng cách từ máy ảnh tới chủ thể thì nên gần, còn khoảng cách từ chủ thể tới cây thông mà càng xa thì bạn sẽ càng có Bokeh tốt hơn, to hơn và tròn hơn.

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

Mẹo 6: Có thể thay đổi hình dạng bokeh bằng cách tăng giảm độ mở ống kính. Độ mở càng lớn thì bóng sáng càng tròn, độ mở hẹp hơn một chút bóng sáng sẽ thành hình lục giác hoặc bát giác tùy thuộc vào ống kính bạn sử dụng có bao nhiêu lá khẩu và cách sắp xếp lá khẩu.

Mẹo 7: Để ảnh chụp đêm Noel thú vị hơn, bạn nên đưa một số đối tượng vào trong ảnh như các em bé, các con vật, một thứ đồ trang trí hay bất cứ thứ gì có thể thể hiện ý tưởng.

Mẹo 8: Mặc dù phần lớn các cảnh tạo bokeh đều lấy ánh đèn ở hậu cảnh, nhưng người chụp vẫn có thể thử nghiệm để ánh đèn ở tiền cảnh (phía trước) vẫn có thể có được bokeh đẹp với các bóng tròn đè lên một phần chủ thể.

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

Mẹo 9: Tự tạo một tấm che ống kính (lens hood) có trổ các hình thù đặc biệt, như hình trái tim, ngôi sao, bông tuyết… để gắn lên ống kính, bạn sẽ có ảnh bokeh với các hình dạng khác nhau rất thú vị.

Một số ảnh chụp Giáng sinh có Bokeh đẹp

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

bokeh, chụp ảnh, nhiếp ảnh, photography, giáng sinh, vnreview

Trang Bùi
Theo VnReview

Read more: http://forum.vietdesigner.net/threads/lam-the-nao-de-chup-anh-bokeh-dep-trong-dem-giang-sinh.71170/#ixzz3MpOacEwK

1390629_673053779380961_503119790_n

[Photo] 10 quy tắc về bố cục trong nhiếp ảnh

Trong nhiếp ảnh không có một quy tắc nào là luôn đúng. Dù vậy cũng có những quy tắc về bố cục có thể được áp dụng trong hầu hết các trường hợp, giúp cho bạn có được những bức ảnh đẹp hơn.

Những quy tắc này sẽ giúp cho bức ảnh của bạn có được sự cân bằng, thu hút sự chú ý vào những phần quan trọng trong ảnh. Một khi bạn đã quen với các quy tắc này, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy chúng được áp dụng rất nhiều. Bạn sẽ thấy những bức ảnh được áp dụng quy tắc ở bất cứ đâu, và dễ dàng nhận ra vì sao một số bức ảnh thực sự gây ấn tượng, trong khi có những bức ảnh trông như thể một bức được chụp vội vàng.

Quy tắc Một phần ba
Hãy tưởng tượng rằng bức ảnh của bạn được chia thành 9 phần, bởi 2 đường kẻ dọc và 2 đường kẻ ngang. Trong quy tắc Một phần ba, bạn nên đặt các phần quan trọng của khung cảnh dọc theo các đường kẻ, hoặc ở các điểm mà chúng giao nhau.
Khi thực hiện điều đó, bức ảnh sẽ có thêm sự cân bằng và thú vị. Một số máy ảnh có sẵn tính năng hiển thị các đường kẻ trên màn hình LCD, để bạn dễ dàng áp dụng quy tắc này.

kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc

Cả đường chân trời và căn nhà quan sát đều được đặt theo đường kẻ.

Các yếu tố cân bằng
Khi bạn đặt một chủ thể lệch khỏi tâm của bức ảnh, như khi áp dụng quy tắc Một phần ba, điều đó sẽ làm bức ảnh thú vị hơn, nhưng cũng làm lộ ra một phần trống trong ảnh. Bạn nên cân bằng “trọng lượng” của chủ thể trong ảnh bằng cách đưa vào một chủ thể khác, ít quan trọng hơn, để lấp vào chỗ trống đó.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Trong ảnh này, “sức nặng” của tấm biển chỉ đường được cân bằng với tòa nhà ở phía kia của bức ảnh

Đường dẫn ánh nhìn
Khi nhìn vào một bức ảnh, đôi mắt chúng ta sẽ tự nhiên nhìn vào các đường kẻ. Bằng cách suy nghĩ về việc đặt các đường kẻ trong bố cục, bạn có thể tác động đến cách người xem nhìn tấm ảnh, thu hút ánh nhìn vào chủ thể chính, hay lướt qua khung cảnh. Có rất nhiều loại đường dẫn – thẳng, chéo, cong, zigzag… – và mỗi loại đều có thể cải thiện được bố cục của bức ảnh.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Con đường trong bức ảnh này sẽ dẫn ánh nhìn của bạn qua toàn bộ khung cảnh

Các khuôn mẫu và sự đối xứng
Xung quanh chúng ta có rất nhiều mẫu hình có tính đối xứng, cả trong tự nhiên và do con người tạo ra. Chúng có thể tạo nên bố cục rất bắt mắt, nhất là khiến người xem bất ngờ khi trong một khung cảnh đặc biệt lại có thể xuất hiện sự đối xứng. Một cách sắp xếp bố cục khác là phá bỏ khuôn mẫu đối xứng, bằng cách tạo ra các tiêu điểm lệch trung tâm.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Sự đối xứng của khung cảnh bị phá vỡ bởi cái xô ở góc dưới bên phải ảnh

Góc chụp
Trước khi chụp chủ thể, hãy dành thời gian để nghĩ xem bạn sẽ chụp nó theo góc nào. Góc chụp có ảnh hưởng lớn tới bố cục của bức ảnh, và do đó có thể thay đổi thông điệp người chụp muốn chuyển tải. Thay vì chụp bằng góc nhìn ngang tầm mắt, hãy thử chụp với góc nhìn từ trên cao xuống, từ dưới nhìn lên, từ bên cạnh, đằng sau, xa hay gần…
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Góc chụp khác biệt giúp bức ảnh tạo được cảm giác thú vị, trừu tượng

Nền của ảnh
Đã bao nhiêu lần bạn xem ảnh mình chụp và thấy rằng bức ảnh thiếu ấn tượng, bởi chủ thể bị lẫn vào một nền có quá nhiều đối tượng đằng sau? Mắt người có thể nhận biết rất nhanh các yếu tố bị lẫn vào nhau, nhưng máy ảnh lại có xu hướng làm bẹt phần nền ở phía trước và phía sau, và điều này có thể làm hỏng một bức ảnh đẹp. Rất may là bạn có thể dễ dàng khắc phục vấn đề này ngay khi chụp – hãy chụp ảnh trên một nền đơn sắc và không gây chú ý, để người xem hoàn toàn tập trung vào chủ thể chính của ảnh.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Nền đơn sắc trong bố cục này giúp người xem hoàn toàn tập trung vào chủ thể của bức ảnh

Độ sâu của bức ảnh
Do nhiếp ảnh diễn tả hình ảnh hai chiều, ta cần chọn bố cục kĩ lưỡng để đảm bảo bức ảnh có thể diễn tả được độ sâu của khung cảnh thực tế. Bạn có thể tạo chiều sâu cho bức ảnh bằng cách đưa vào các đối tượng ở cả phần trước, giữa và sau của khung cảnh. Bạn cũng có thể che bớt một phần của chủ thể bằng một chủ thể khác. Mắt người có thể nhận ra các lớp trong bức ảnh và tách biệt chúng ra, tự tạo thành một bức ảnh có chiều sâu.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Tạo nên chiều sâu cho bức ảnh bằng cách đưa vào các đối tượng ở những khoảng cách khác nhau

Đóng khung
Có rất nhiều sự vật có thể tạo thành các khung ảnh tự nhiên, như cây cối, những con đường hay hố sâu. Bằng cách đặt các sự vật này quanh bố cục của bức ảnh, bạn có thể tách chủ thể chính ra khỏi khung cảnh bên ngoài. Nhờ đó ánh nhìn của người xem sẽ tự nhiên được dẫn vào điểm quan trọng nhất của ảnh.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Trong bức ảnh này, những đồi núi xung quanh tạo thành một khung tự nhiên, và mảnh gỗ trở thành tâm điểm của bức ảnh

Tập trung vào chủ thể chính
Thường thì một bức ảnh sẽ không gây ấn tượng nếu như chủ thể chính quá nhỏ, khiến cho nó bị hòa lẫn vào môi trường xung quanh. Bằng cách đặt khung ảnh thật sát vào chủ thể chính, bạn sẽ loại bỏ được sự chú ý của người xem vào môi trường xung quanh, đảm bảo chủ thể chính có được sự chú ý cần thiết.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Loại bỏ hết các chi tiết không cần thiết giúp người xem tập trung sự chú ý vào chủ thể chính

Hãy mạnh dạn thử nghiệm
Từ khi máy ảnh số trở nên phổ biến, chúng ta không còn phải lo về giá tiền của phim hay sợ hết phim khi đang chụp nữa. Do vậy, bạn có thể thử thật nhiều bố cục cho một bức ảnh; ta có thể chụp hàng trăm bức ảnh và sau đó xóa những bức không mong muốn mà không tốn kém gì cả. Hãy tận dụng điều này, thử nghiệm với các bố cục khác nhau – bạn sẽ không thể biết một ý tưởng có tốt không nếu như không thử.
kỹ thuật nhiếp ảnh, bố cục ảnh, photography, nhiếp ảnh, quy tắc
Nhiếp ảnh số cho phép chúng ta thoải mái thử các bố cục cho tới khi tìm ra được bố cục hoàn hảo
Bố cục trong nhiếp ảnh không phải là một môn khoa học, và tất cả các “quy tắc” trên đều không phải bất biến hay luôn đúng. Nếu như bạn áp dụng một quy tắc với một khung cảnh nhất định và thấy nó không có tác dụng, hãy bỏ qua nó. Nếu như bạn nhận ra một bố cục không theo quy tắc nào nhưng vẫn rất thuyết phục, hãy chụp theo bố cục đó. Dù sao, các quy tắc trên cũng rất phổ biến, và cũng đáng để cân nhắc mỗi lần bạn chụp ảnh.

Read more: http://forum.vietdesigner.net/threads/10-quy-ta%CC%81c-ve%CC%80-bo%CC%81-cu%CC%A3c-trong-nhie%CC%81p-a%CC%89nh.16370/#ixzz3MpD4gJQV